Tụng niệm hằng ngày
Chọn phần cần đọc, mở bài kinh và đối chiếu nguyên văn với phần diễn nghĩa tiếng Việt.
PHẦN ICông phu buổi sáng
PHẦN I —
CÔNG PHU TỤNG NIỆM BUỔI SÁNG
(PĀTA VANDANĀ)
02Dâng phẩm vật cúng dường Tam bảo (Ratanattaya Pūjā)
Ratanattaya Pūjā
Puppha Pūjā
Vaṇṇa-gandha-guṇopetaṃ, etaṃ kusumasantatiṃ,
Pūjayāmi munindassa, sirīpāda-saroruhe.
Pūjemi buddhaṃ kusumenanena, puññenametena ca hotu mokkhaṃ,
Pupphaṃ milāyāti yathā idaṃ me, kāyo tathā yāti vināsabhāvaṃ.
Pūjemi dhammaṃ kusumenanena, puññenametena ca hotu mokkhaṃ,
Pupphaṃ milāyāti yathā idaṃ me, kāyo tathā yāti vināsabhāvaṃ.
Pūjemi saṅghaṃ kusumenanena, puññenametena ca hotu mokkhaṃ,
Pupphaṃ milāyāti yathā idaṃ me, kāyo tathā yāti vināsabhāvaṃ.
Padīpa Pūjā
Ghanasārappadittena, dīpena tamadhaṃsinā,
Tilokadīpaṃ sambuddhaṃ, pūjayāmi tamonudaṃ.
Sugandha Pūjā
Gandha-sambhāra-yuttena, dhūpenāhaṃ sugandhinā,
Pūjaye pūjaneyyaṃ taṃ, pūjābhājanamuttamaṃ.
Thực hành lúc bình minh tại chánh điện, trước thời thọ thực và công việc trong ngày.
Dâng phẩm vật cúng dường Tam bảo (Ratanattaya Pūjā)
Trì tụng khi dâng phẩm vật trước tôn tượng Đức Phật, vào đầu thời khóa sáng hoặc chiều, và trong các ngày bố-tát, lễ hội. Dâng từng phẩm vật theo câu kệ tương ứng rồi đảnh lễ.
Dâng hoa (Puppha Pūjā)
Con kính dâng những đóa hoa tươi đẹp, đủ sắc hương, lên bậc Đạo Sư, nơi đôi chân sen thanh tịnh của Ngài.
Con lấy hoa này cúng dường Đức Phật; nguyện công đức ấy làm duyên đưa đến giải thoát. Như hoa kia rồi sẽ úa tàn, thân con cũng phải chịu quy luật hoại diệt.
Con lấy hoa này cúng dường Pháp bảo…
Con lấy hoa này cúng dường Tăng bảo…
Dâng đèn (Padīpa Pūjā)
Với ngọn đèn sáng rực xua tan tối tăm, con kính cúng dường Đức Chánh Đẳng Giác, ngọn đèn của ba cõi, bậc xua tan bóng tối vô minh.
Dâng hương (Sugandha Pūjā)
Với làn hương thơm ngát, con kính cúng dường bậc đáng được cúng dường, ruộng phước vô thượng.
03Dâng vật thực (Āhāra Pūjā) — trước giờ ngọ
Āhāra Pūjā
Adhivāsetu no bhante, bhojanaṃ parikappitaṃ,
Anukampaṃ upādāya, paṭiggaṇhātu muttamaṃ.
Pānīya Pūjā
Adhivāsetu no bhante, pānīyaṃ parikappitaṃ,
Anukampaṃ upādāya, paṭiggaṇhātu muttamaṃ.
Gilānapaccaya Pūjā
Adhivāsetu no bhante, gilānapaccayaṃ imaṃ,
Anukampaṃ upādāya, paṭiggaṇhātu muttamaṃ.
Paṭipattipūjā
Imāya dhammānudhammapaṭipattiyā buddhaṃ pūjemi.
Imāya dhammānudhammapaṭipattiyā dhammaṃ pūjemi.
Imāya dhammānudhammapaṭipattiyā saṅghaṃ pūjemi.
Addhā imāya paṭipattiyā jāti-jarā-maraṇamhā parimuccissāmi.
Dâng vật thực (Āhāra Pūjā) — trước giờ ngọ
Kính bạch Ngài, xin vì lòng từ mẫn mà hoan hỷ thọ nhận phần vật thực chúng con đã sửa soạn.
Dâng nước uống (Pānīya Pūjā)
Kính bạch Ngài, xin vì lòng từ mẫn mà hoan hỷ thọ nhận phần nước uống chúng con đã sửa soạn.
Dâng vật dụng cho người bệnh (Gilānapaccaya Pūjā) — sau giờ ngọ Kính bạch Ngài, xin vì lòng từ mẫn mà hoan hỷ thọ nhận những vật dụng hoặc thức uống được Giới luật cho phép dùng vào thời điểm này.
Cúng dường bằng sự thực hành
Bằng sự hành trì đúng theo Pháp, con cúng dường Đức Phật; con cúng dường Pháp bảo; con cúng dường Tăng bảo. Nguyện nhờ sự tu tập này mà con tiến đến giải thoát khỏi sinh, già và chết.
041. TÁN DƯƠNG VÀ ĐẢNH LỄ TAM BẢO
1. RATANATTAYA VANDANĀ
(L) Yo so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho, svākkhāto yena bhagavatā dhammo, supaṭipanno yassa bhagavato sāvakasaṅgho, tam-mayaṃ bhagavantaṃ sadhammaṃ sasaṅghaṃ imehi sakkārehi yathārahaṃ āropitehi abhipūjayāma.
Arahaṃ sammāsambuddho bhagavā, buddhaṃ bhagavantaṃ abhivādemi. ✦
Svākkhāto bhagavatā dhammo, dhammaṃ namassāmi. ✦
Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, saṅghaṃ namāmi. ✦
1. TÁN DƯƠNG VÀ ĐẢNH LỄ TAM BẢO
Chúng con kính dâng những phẩm vật thích hợp để cúng dường Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác; Giáo pháp được Ngài khéo thuyết giảng và Tăng-già đệ tử đã khéo hành trì.
Con chí thành đảnh lễ Phật bảo, tôn kính Pháp bảo và đảnh lễ Tăng bảo.
052. LỜI ĐẢNH LỄ MỞ ĐẦU — BA LẦN
2. LỜI ĐẢNH LỄ MỞ ĐẦU — BA LẦN
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
2. LỜI ĐẢNH LỄ MỞ ĐẦU — BA LẦN
Con thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.
063. TÙY NIỆM PHẬT (BUDDHĀNUSSATI)
3. TÙY NIỆM PHẬT (BUDDHĀNUSSATI)
Itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho, vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū, anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti.
3. TÙY NIỆM PHẬT (BUDDHĀNUSSATI)
Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh hạnh, bậc Thiện Thệ, bậc Thế Gian Giải, bậc Vô Thượng Điều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
074. TÙY NIỆM PHÁP (DHAMMĀNUSSATI)
4. TÙY NIỆM PHÁP (DHAMMĀNUSSATI)
Svākkhāto bhagavatā dhammo, sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko, opanayiko paccattaṃ veditabbo viññūhīti.
4. TÙY NIỆM PHÁP (DHAMMĀNUSSATI)
Pháp do Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không bị thời gian chi phối, đến để thấy, hướng dẫn vào nội tâm, bậc trí tự mình chứng biết.
085. TÙY NIỆM TĂNG (SAṄGHĀNUSSATI)
5. TÙY NIỆM TĂNG (SAṄGHĀNUSSATI)
Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujupaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyapaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcipaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho, āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo, anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassāti.
5. TÙY NIỆM TĂNG (SAṄGHĀNUSSATI)
Tăng-già đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc khéo hành trì, trực hạnh, như lý hành trì, chánh hạnh; gồm bốn đôi, tám bậc Thánh nhân; đáng được cúng dường, tiếp đón, hiến tặng và chắp tay đảnh lễ; là ruộng phước vô thượng của thế gian.
096. QUÁN TƯỞNG BỐN MÓN VẬT DỤNG (PAṬISAṄKHĀ YONISO)
6. QUÁN TƯỞNG BỐN MÓN VẬT DỤNG (PAṬISAṄKHĀ YONISO)
Paṭisaṅkhā yoniso cīvaraṃ paṭisevāmi, yāvadeva sītassa paṭighātāya, uṇhassa paṭighātāya, ḍaṃsa-makasa-vātātapa-sirīṃsapa-samphassānaṃ paṭighātāya, yāvadeva hirikopīna-paṭicchādanatthaṃ.
Paṭisaṅkhā yoniso piṇḍapātaṃ paṭisevāmi, neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṃsūparatiyā brahmacariyānuggahāya, iti purāṇañca vedanaṃ paṭihaṅkhāmi navañca vedanaṃ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro cāti.
Paṭisaṅkhā yoniso senāsanaṃ paṭisevāmi, yāvadeva sītassa paṭighātāya, uṇhassa paṭighātāya, ḍaṃsa-makasa-vātātapa-sirīṃsapa-samphassānaṃ paṭighātāya, yāvadeva utuparissaya-vinodanaṃ paṭisallānārāmatthaṃ.
Paṭisaṅkhā yoniso gilānapaccaya-bhesajja-parikkhāraṃ paṭisevāmi, yāvadeva uppannānaṃ veyyābādhikānaṃ vedanānaṃ paṭighātāya, abyāpajjha-paramatāya.
6. QUÁN TƯỞNG BỐN MÓN VẬT DỤNG (PAṬISAṄKHĀ YONISO)
Chánh niệm quán xét, tôi sử dụng y phục chỉ để ngăn lạnh nóng, côn trùng, gió nắng, các loài bò sát và che thân cho hợp hạnh tàm quý.
Chánh niệm quán xét, tôi dùng vật thực khất thực không phải để vui chơi, hưởng thụ, bồi bổ sắc diện hay trang sức, mà chỉ để duy trì và nuôi dưỡng thân này, ngăn ngừa tổn hại và hỗ trợ phạm hạnh; đoạn trừ cảm thọ đói cũ mà không khởi cảm thọ mới do ăn uống quá độ, để được sống an ổn, không lỗi lầm.
Chánh niệm quán xét, tôi sử dụng trú xứ để tránh lạnh nóng, mưa nắng và các bất lợi của thời tiết, đồng thời có nơi thuận tiện cho sự độc cư tu tập.
Chánh niệm quán xét, tôi dùng dược phẩm và vật dụng trị bệnh chỉ để chế ngự những cảm thọ đau đớn đã sinh và làm duyên cho thân không bị bệnh khổ chi phối quá mức.
107. NĂM ĐIỀU THƯỜNG QUÁN TƯỞNG (ABHIṆHAPACCAVEKKHAṆA)
7. NĂM ĐIỀU THƯỜNG QUÁN TƯỞNG (ABHIṆHAPACCAVEKKHAṆA)
Jarādhammomhi, jaraṃ anatīto.
Byādhidhammomhi, byādhiṃ anatīto.
Maraṇadhammomhi, maraṇaṃ anatīto.
Sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo.
Kammassakomhi, kammadāyādo, kammayoni, kammabandhu, kammapaṭisaraṇo; yaṃ kammaṃ karissāmi, kalyāṇaṃ vā pāpakaṃ vā, tassa dāyādo bhavissāmi.
7. NĂM ĐIỀU THƯỜNG QUÁN TƯỞNG (ABHIṆHAPACCAVEKKHAṆA)
Tôi phải chịu sự già; chưa vượt khỏi tuổi già.
Tôi phải chịu bệnh; chưa vượt khỏi bệnh.
Tôi phải chịu chết; chưa vượt khỏi sự chết.
Tất cả những gì thân yêu, khả ái rồi sẽ đổi khác và phải chia lìa.
Tôi là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp, do nghiệp mà sinh, có nghiệp làm quyến thuộc, lấy nghiệp làm nơi nương tựa. Nghiệp nào tôi tạo tác, thiện hay bất thiện, tôi sẽ thừa tự kết quả của nghiệp ấy.
118. BỐN NIỆM XỨ (CATTĀRO SATIPAṬṬHĀNĀ) — TRÍCH MN 10
8. BỐN NIỆM XỨ (CATTĀRO SATIPAṬṬHĀNĀ) — TRÍCH MN 10
(L) Ekāyano ayaṃ bhikkhave maggo, sattānaṃ visuddhiyā, sokaparidevānaṃ samatikkamāya, dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya, ñāyassa adhigamāya, nibbānassa sacchikiriyāya, yadidaṃ cattāro satipaṭṭhānā.
Katame cattāro? Idha bhikkhave bhikkhu,
Kāye kāyānupassī viharati, ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.
Vedanāsu vedanānupassī viharati, ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.
Citte cittānupassī viharati, ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.
8. BỐN NIỆM XỨ (CATTĀRO SATIPAṬṬHĀNĀ) — TRÍCH MN 10
Trích Kinh Niệm Xứ, Trung Bộ kinh số 10, thường được trì tụng trước giờ thiền tập hoặc trong khóa tu.
Này các Tỳ-khưu, đây là con đường trực tiếp đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh, vượt qua sầu bi, đoạn tận khổ ưu, thành tựu chánh đạo và chứng ngộ Niết-bàn: chính là bốn niệm xứ.
Bốn pháp ấy là gì? Này các Tỳ-khưu, ở đây một vị Tỳ-khưu…
Sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, chế ngự tham ưu ở đời.
Sống quán thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, chế ngự tham ưu ở đời.
Sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, chế ngự tham ưu ở đời.
Sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, chế ngự tham ưu ở đời.
12Điệp khúc quán chiếu
Dhammesu dhammānupassī viharati, ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.
Điệp khúc quán chiếu
Iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati.
Samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati.
"Atthi kāyo"ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti, yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya, anissito ca viharati, na ca kiñci loke upādiyati.
Lợi ích của sự tu tập
Yo hi koci bhikkhave ime cattāro satipaṭṭhāne evaṃ bhāveyya satta vassāni, tassa dvinnaṃ phalānaṃ aññataraṃ phalaṃ pāṭikaṅkhaṃ: diṭṭheva dhamme aññā, sati vā upādisese anāgāmitā.
Điệp khúc quán chiếu
Vị ấy quán thân nơi nội thân, ngoại thân, và cả nội thân lẫn ngoại thân; quán sự sinh khởi, sự diệt tận, và sự sinh diệt của thân. Chánh niệm rằng “có thân đây” được an lập chỉ để nuôi dưỡng trí biết và chánh niệm. Vị ấy sống không nương tựa, không chấp thủ bất cứ điều gì ở đời.
Khi trì tụng đầy đủ, cần dùng điệp khúc tương ứng cho thọ, tâm và pháp; trong bản nguồn có hướng dẫn thay thế các thuật ngữ Pāli tương ứng. Đoạn này chưa phải toàn văn MN 10.
Lợi ích của sự tu tập
Này các Tỳ-khưu, ai tu tập bốn niệm xứ theo cách ấy trong bảy năm có thể mong đợi một trong hai quả: chứng trí giải thoát ngay hiện tại, hoặc nếu còn dư y thì chứng quả Bất lai. Bản kinh còn trình bày các thời hạn ngắn hơn, cho đến bảy ngày.
Ghi chú: Bốn niệm xứ không đồng nhất với bốn pháp hộ trì (Caturārakkha), thường gồm niệm Phật, tu tập tâm từ, quán bất tịnh và niệm chết.
13Hướng dẫn / nội dung tiếp theo
Thực hành lúc chiều tối tại chánh điện. Việc dâng đèn hoặc hương tùy theo truyền thống và điều kiện an toàn của tự viện.
PHẦN IICông phu buổi tối
PHẦN II —
CÔNG PHU TỤNG NIỆM BUỔI TỐI
(SĀYAṂ VANDANĀ)
021. TÁN DƯƠNG VÀ ĐẢNH LỄ TAM BẢO
1. TÁN DƯƠNG VÀ ĐẢNH LỄ TAM BẢO
(L) Yo so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho, svākkhāto yena bhagavatā dhammo, supaṭipanno yassa bhagavato sāvakasaṅgho, tam-mayaṃ bhagavantaṃ sadhammaṃ sasaṅghaṃ imehi sakkārehi yathārahaṃ āropitehi abhipūjayāma.
Arahaṃ sammāsambuddho bhagavā, buddhaṃ bhagavantaṃ abhivādemi. ✦
Svākkhāto bhagavatā dhammo, dhammaṃ namassāmi. ✦
Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, saṅghaṃ namāmi. ✦
1. TÁN DƯƠNG VÀ ĐẢNH LỄ TAM BẢO
Kính dâng lời tán dương Đức Thế Tôn, Pháp bảo và Tăng bảo. Chúng con thành tâm cúng dường và đảnh lễ Tam bảo.
032. LỜI ĐẢNH LỄ MỞ ĐẦU — BA LẦN
2. NAMO TASSA — TIKKHATTUṂ
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
2. LỜI ĐẢNH LỄ MỞ ĐẦU — BA LẦN
Con thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.
043. QUY Y TAM BẢO (SARAṆAGAMANA)
3. SARAṆAGAMANA
Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dutiyampi buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dutiyampi dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dutiyampi saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Tatiyampi buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Tatiyampi dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Tatiyampi saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
3. QUY Y TAM BẢO (SARAṆAGAMANA)
Con xin nương tựa Phật.
Con xin nương tựa Pháp.
Con xin nương tựa Tăng.
Lần thứ hai, con xin nương tựa Phật.
Lần thứ hai, con xin nương tựa Pháp.
Lần thứ hai, con xin nương tựa Tăng.
Lần thứ ba, con xin nương tựa Phật.
Lần thứ ba, con xin nương tựa Pháp.
Lần thứ ba, con xin nương tựa Tăng.
054. TÁN LỄ TAM BẢO (RATANATTAYA VANDANĀ)
4. RATANATTAYA VANDANĀ
Buddho susuddho karuṇāmahaṇṇavo,
Yoccanta-suddhabbara-ñāṇalocano,
Lokassa pāpūpakilesa-ghātako,
Vandāmi buddhaṃ ahamādarena taṃ.
Dhammo padīpo viya tassa satthuno,
Yo magga-pākāmata-bheda-bhinnako,
Vandāmi dhammaṃ ahamādarena taṃ.
Saṅgho sukhettābhyatikhetta-saññito,
Yo diṭṭhasanto sugatānubodhako,
Vandāmi saṅghaṃ ahamādarena taṃ.
Iccevamekantabhipūjaneyyakaṃ, vatthuttayaṃ vandayatābhisaṅkhataṃ, puññaṃ mayā yaṃ mama sabbupaddavā, mā hontu ve tassa pabhāvasiddhiyā.
4. TÁN LỄ TAM BẢO (RATANATTAYA VANDANĀ)
Đức Phật hoàn toàn thanh tịnh, biển cả đại bi, có trí nhãn vô cùng trong sáng, là bậc đoạn trừ ô nhiễm thế gian. Con hết lòng cung kính đảnh lễ Đức Phật.
Giáo pháp của bậc Đạo Sư tựa ngọn đèn soi sáng, gồm đạo, quả và pháp Bất tử, là pháp siêu thế dẫn đến cứu cánh ấy. Con hết lòng cung kính đảnh lễ Pháp bảo.
Tăng-già là ruộng phước cao quý, gồm những bậc đã thấy tịch tịnh và tùy thuận giác ngộ theo bậc Thiện Thệ, là những bậc Thánh hiền trí tuệ, lìa tham ái. Con hết lòng cung kính đảnh lễ Tăng bảo.
Nguyện công đức sinh khởi từ sự lễ bái Tam bảo cao quý này làm duyên để những điều bất an, tai chướng của con được tiêu trừ.
065. QUÁN TƯỞNG BA ĐẶC TƯỚNG
5. QUÁN TƯỞNG BA ĐẶC TƯỚNG
Sabbe saṅkhārā aniccā.
Sabbe saṅkhārā dukkhā.
Sabbe dhammā anattā.
5. QUÁN TƯỞNG BA ĐẶC TƯỚNG
Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường.
Tất cả các pháp hữu vi đều là khổ.
Tất cả các pháp đều vô ngã.
076. BỐN TÂM VÔ LƯỢNG (BRAHMAVIHĀRA)
6. BỐN TÂM VÔ LƯỢNG (BRAHMAVIHĀRA)
Tâm từ đối với bản thân
Ahaṃ sukhito homi, niddukkho homi, avero homi, abyāpajjho homi, anīgho homi, sukhī attānaṃ pariharāmi.
Lokuttaro yo ca tadattha-dīpano,
Lolappahīno ariyo sumedhaso,
Mettā
Sabbe sattā averā hontu, abyāpajjhā hontu, anīghā hontu, sukhī attānaṃ pariharantu.
Karuṇā
Sabbe sattā sabbadukkhā pamuccantu.
Muditā
Sabbe sattā mā laddhasampattito vigacchantu.
Upekkhā
Sabbe sattā kammassakā kammadāyādā kammayonī kammabandhū kammapaṭisaraṇā, yaṃ kammaṃ karissanti, kalyāṇaṃ vā pāpakaṃ vā, tassa dāyādā bhavissanti.
6. BỐN TÂM VÔ LƯỢNG (BRAHMAVIHĀRA)
Tâm từ đối với bản thân
Nguyện cho tôi được an vui, không khổ đau, không oán thù, không sân hận, không lo ngại; được tự chăm sóc thân tâm trong an ổn.
Tâm từ (Mettā)
Nguyện cho tất cả chúng sinh không oán thù, không sân hận, không khổ não; được sống an lành.
Tâm bi (Karuṇā)
Nguyện tất cả chúng sinh thoát khỏi mọi khổ đau.
Tâm hỷ (Muditā)
Nguyện tất cả chúng sinh không phải lìa xa những điều tốt lành đã có được.
Tâm xả (Upekkhā)
Mọi chúng sinh là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp, do nghiệp mà sinh, có nghiệp làm quyến thuộc, lấy nghiệp làm nơi nương tựa. Dù tạo nghiệp thiện hay bất thiện, mỗi chúng sinh đều phải thừa tự kết quả nghiệp ấy.
087. SÁM HỐI TRƯỚC TAM BẢO
7. RATANATTAYA KHAMĀPANĀ
Kāyena vācāya va cetasā vā, buddhe kukammaṃ pakataṃ mayā yaṃ,
Buddho paṭiggaṇhatu accayantaṃ, kālantare saṃvarituṃ va buddhe. ✦
Kāyena vācāya va cetasā vā, dhamme kukammaṃ pakataṃ mayā yaṃ,
Dhammo paṭiggaṇhatu accayantaṃ, kālantare saṃvarituṃ va dhamme. ✦
Kāyena vācāya va cetasā vā, saṅghe kukammaṃ pakataṃ mayā yaṃ,
Saṅgho paṭiggaṇhatu accayantaṃ, kālantare saṃvarituṃ va saṅghe. ✦
7. SÁM HỐI TRƯỚC TAM BẢO
Nếu con đã có điều sai trái đối với Phật bảo, Pháp bảo hay Tăng bảo, do thân, khẩu hoặc ý, con xin chân thành nhận lỗi và nguyện phòng hộ để không tái phạm trong tương lai.
098. HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC BUỔI TỐI
8. SĀYAṂ PATTIDĀNA
Idaṃ me puññaṃ āsavakkhayāvahaṃ hotu.
Idaṃ me puññaṃ nibbānassa paccayo hotu.
Mama puññabhāgaṃ sabbasattānaṃ bhājemi; te sabbe me samaṃ puññabhāgaṃ labhantu.
8. HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC BUỔI TỐI
Nguyện công đức này trợ duyên cho sự đoạn tận các lậu hoặc. Nguyện công đức này làm duyên cho sự chứng ngộ Niết-bàn. Con xin chia sẻ phần công đức này đến tất cả chúng sinh; nguyện tất cả đều được tùy hỷ trong phần phước thiện ấy.
109. KẾT THÚC
9. SAMĀPANA
Arahaṃ sammāsambuddho bhagavā, buddhaṃ bhagavantaṃ abhivādemi. ✦
Svākkhāto bhagavatā dhammo, dhammaṃ namassāmi. ✦
Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, saṅghaṃ namāmi. ✦
9. KẾT THÚC
Con đảnh lễ Phật bảo, tôn kính Pháp bảo và đảnh lễ Tăng bảo.
Trước khi rời chánh điện, đại chúng an tọa trong im lặng để hành thiền theo thời lượng do vị trưởng chúng hướng dẫn.
11Hướng dẫn / nội dung tiếp theo
PARITTA
Các bài kinh và kệ tụng sau thường được sử dụng trong những buổi lễ cầu an và hộ trì. Trong một số truyền thống, chư Tăng có thể sử dụng chỉ ngũ sắc hoặc chỉ hộ trì cùng bát nước trong khi tụng. Đây là tập tục nghi lễ, không nên xem là điều kiện bắt buộc của mọi bản kinh hay mọi truyền thống.
PHẦN BAKinh hộ trì
PHẦN BA —
KINH HỘ TRÌ
(PARITTA)
021. THỈNH CHƯ THIÊN (DEVATĀ ĀRĀDHANĀ)
1. DEVATĀ ĀRĀDHANĀ
(L) Samantā cakkavāḷesu, atrāgacchantu devatā,
Saddhammaṃ munirājassa, suṇantu saggamokkhadaṃ.
Sagge kāme ca rūpe, giri-sikhara-taṭe cantalikkhe vimāne,
Dīpe raṭṭhe ca gāme, taru-vana-gahane geha-vatthumhi khette,
Bhummā cāyantu devā, jala-thala-visame yakkha-gandhabba-nāgā,
Tiṭṭhantā santike yaṃ, muni-vara-vacanaṃ sādhavo me suṇantu.
1. THỈNH CHƯ THIÊN (DEVATĀ ĀRĀDHANĀ)
Kính thỉnh chư thiên trong khắp các thế giới quang lâm nơi đây, lắng nghe Chánh pháp của bậc Mâu-ni Vương, pháp đưa đến thiện thú và giải thoát.
Chư thiên ở các cõi dục giới và sắc giới, nơi đỉnh núi, sườn núi, không trung và thiên cung;
trên các đảo, trong quốc độ, thôn làng, dưới cây, giữa rừng sâu, nơi nhà cửa và ruộng đất;
cùng chư địa thiên, dạ-xoa, càn-thát-bà và long thần ở nơi đất liền, sông nước hay miền hiểm trở;
xin hãy đến gần và cung kính lắng nghe lời dạy cao quý của bậc Mâu-ni.
Dhammassavanakālo ayaṃ bhadantā. (ba lần)
Kính bạch chư vị, giờ nghe Pháp đã đến. (Tụng ba lần.)
032. KINH ĐIỀM LÀNH (MAṄGALA SUTTA)
2. MAṄGALA SUTTA
(L) Evaṃ me sutaṃ. Ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhitā kho sā devatā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi:
1. Bahū devā manussā ca, maṅgalāni acintayuṃ, ākaṅkhamānā sotthānaṃ, brūhi maṅgalamuttamaṃ.
2. Asevanā ca bālānaṃ, paṇḍitānañca sevanā, pūjā ca pūjanīyānaṃ, etammaṅgalamuttamaṃ.
3. Paṭirūpadesavāso ca, pubbe ca katapuññatā, attasammāpaṇidhi ca, etammaṅgalamuttamaṃ.
4. Bāhusaccañca sippañca, vinayo ca susikkhito, subhāsitā ca yā vācā, etammaṅgalamuttamaṃ.
2. KINH ĐIỀM LÀNH (MAṄGALA SUTTA)
Bản dưới đây dịch phần văn và các kệ có trong sách gốc; giữ nguyên mười hai kệ tụng theo thứ tự.
Tôi được nghe như vầy: Một thời Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong rừng Jeta, tu viện do ông Anāthapiṇḍika dâng cúng. Khi đêm đã khuya, một vị thiên nhân có dung sắc rực rỡ làm sáng khắp rừng Jeta, đi đến đảnh lễ Đức Thế Tôn và đứng sang một bên. Đứng một bên, vị ấy bạch Ngài bằng bài kệ:
1. Chư thiên và loài người đã suy nghĩ nhiều về các điều lành, mong cầu an ổn. Xin Ngài chỉ dạy điềm lành tối thượng.
2. Không thân cận người ngu, thân cận bậc trí, cung kính người đáng kính: ấy là điềm lành tối thượng.
3. Ở nơi chốn thích hợp, đã từng tạo phước lành, và hướng tâm mình đi đúng đường: ấy là điềm lành tối thượng.
4. Học rộng và có nghề hay, khéo rèn luyện trong giới luật, nói lời chân chánh, tốt đẹp: ấy là điềm lành tối thượng.
042. KINH ĐIỀM LÀNH (MAṄGALA SUTTA) — tiếp
5. Mātāpitu upaṭṭhānaṃ, puttadārassa saṅgaho, anākulā ca kammantā, etammaṅgalamuttamaṃ.
6. Dānañca dhammacariyā ca, ñātakānañca saṅgaho, anavajjāni kammāni, etammaṅgalamuttamaṃ.
7. Āratī viratī pāpā, majjapānā ca saṃyamo, appamādo ca dhammesu, etammaṅgalamuttamaṃ.
8. Gāravo ca nivāto ca, santuṭṭhi ca kataññutā, kālena dhammassavanaṃ, etammaṅgalamuttamaṃ.
9. Khantī ca sovacassatā, samaṇānañca dassanaṃ, kālena dhammasākacchā, etammaṅgalamuttamaṃ.
10. Tapo ca brahmacariyañca, ariyasaccāna dassanaṃ, nibbānasacchikiriyā ca, etammaṅgalamuttamaṃ.
11. Phuṭṭhassa lokadhammehi, cittaṃ yassa na kampati, asokaṃ virajaṃ khemaṃ, etammaṅgalamuttamaṃ.
12. Etādisāni katvāna, sabbattha-maparājitā, sabbattha sotthiṃ gacchanti, taṃ tesaṃ maṅgalamuttamanti.
5. Phụng dưỡng mẹ cha, chăm sóc vợ con, làm công việc không rối ren: ấy là điềm lành tối thượng.
6. Bố thí và hành xử đúng Pháp, giúp đỡ thân quyến, làm những việc không lỗi lầm: ấy là điềm lành tối thượng.
7. Xa lánh và từ bỏ điều ác, tiết chế các chất say, không phóng dật trong các thiện pháp: ấy là điềm lành tối thượng.
8. Biết cung kính và khiêm nhường, sống tri túc và biết ơn, đúng thời nghe
Chánh pháp: ấy là điềm lành tối thượng.
9. Nhẫn nại và dễ được khuyên dạy, gặp gỡ các bậc sa-môn, đúng thời thảo luận Chánh pháp: ấy là điềm lành tối thượng.
10. Nhiệt tâm tu tập và sống phạm hạnh, thấy rõ các Thánh đế, chứng ngộ
Niết-bàn: ấy là điềm lành tối thượng.
11. Khi tiếp xúc với tám pháp thế gian mà tâm không dao động, không sầu muộn, không nhiễm ô, được an ổn: ấy là điềm lành tối thượng.
12. Những ai thực hành các điều ấy thì không bị khuất phục ở bất cứ nơi đâu, đi đến đâu cũng được an ổn: đó là điềm lành tối thượng của họ.
053. KINH CHÂU BÁU (RATANA SUTTA) — KHÔI PHỤC ĐIỆP KHÚC
3. KINH CHÂU BÁU (RATANA SUTTA) — KHÔI PHỤC ĐIỆP KHÚC
1. Yānīdha bhūtāni samāgatāni, bhummāni vā yāni va antalikkhe, sabbeva bhūtā sumanā bhavantu, athopi sakkacca suṇantu bhāsitaṃ.
2. Tasmā hi bhūtā nisāmetha sabbe, mettaṃ karotha mānusiyā pajāya, divā ca ratto ca haranti ye baliṃ, tasmā hi ne rakkhatha appamattā.
3. Yaṃ kiñci vittaṃ idha vā huraṃ vā, saggesu vā yaṃ ratanaṃ paṇītaṃ, na no samaṃ atthi tathāgatena, idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ Etena saccena suvatthi hotu.
4. Khayaṃ virāgaṃ amataṃ paṇītaṃ, yadajjhagā sakyamunī samāhito, na tena dhammena samatthi kiñci, idampi dhamme ratanaṃ paṇītaṃ Etena saccena suvatthi hotu.
5. Yaṃ buddhaseṭṭho parivaṇṇayī suciṃ, samādhimānantarikaññamāhu, samādhinā tena samo na vijjati, idampi dhamme ratanaṃ paṇītaṃ Etena saccena suvatthi hotu.
6. Ye puggalā aṭṭha sataṃ pasatthā, cattāri etāni yugāni honti, te dakkhiṇeyyā sugatassa sāvakā, etesu dinnāni mahapphalāni, idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ Etena saccena suvatthi hotu.
7. Ye suppayuttā manasā daḷhena, nikkāmino gotamasāsanamhi, te pattipattā amataṃ vigayha, laddhā mudhā nibbutiṃ bhuñjamānā, idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ Etena saccena suvatthi hotu.
8. Yathindakhīlo pathaviṃ sito siyā, catubbhi vātebhi asampakampiyo, tathūpamaṃ sappurisaṃ vadāmi, yo ariyasaccāni avecca passati, idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ Etena saccena suvatthi hotu.
3. KINH CHÂU BÁU (RATANA SUTTA) — KHÔI PHỤC ĐIỆP KHÚC
1. Nguyện cho tất cả chúng sinh đang tụ hội nơi đây, ở trên đất hay giữa hư không, đều hoan hỷ và cung kính lắng nghe những lời được thuyết giảng.
2. Vậy, hỡi chư hữu tình, xin hãy lắng nghe. Hãy đem lòng từ ái đối với loài người, những người ngày đêm dâng cúng; hãy tận tâm hộ trì họ.
3. Không có bảo vật nào ở đời này, đời khác hay trên các cõi trời có thể sánh bằng Đức Như Lai. Đây là châu báu nơi Đức Phật. Do sự thật này, nguyện được an lành.
4. Sự đoạn tận, ly tham và pháp Bất tử cao quý mà Đức Thích-ca Mâu-ni chứng ngộ trong định tĩnh: không có pháp nào sánh bằng. Đây là châu báu nơi Chánh pháp. Do sự thật này, nguyện được an lành.
5. Định thanh tịnh được Đức Phật tối thượng tán thán, được gọi là có quả không gián đoạn; không có định nào sánh bằng. Đây là châu báu nơi Chánh pháp. Do sự thật này, nguyện được an lành.
6. Tám bậc Thánh nhân, gồm bốn đôi, là những vị đệ tử của bậc Thiện Thệ đáng được cúng dường; vật cúng dường đến các vị ấy có quả lớn. Đây là châu báu nơi Tăng-già. Do sự thật này, nguyện được an lành.
7. Những vị có tâm kiên định, chuyên cần trong giáo pháp Đức Gotama, đã thể nhập Bất tử và an hưởng tịch tịnh không do mua đổi. Đây là châu báu nơi Tăng-già. Do sự thật này, nguyện được an lành.
8. Như cột trụ thành được cắm vững trong đất, bốn phương gió không lay chuyển; bậc chân nhân thấy rõ các Thánh đế cũng vững chãi như vậy. Đây là châu báu nơi Tăng-già. Do sự thật này, nguyện được an lành.
063. KINH CHÂU BÁU (RATANA SUTTA) — KHÔI PHỤC ĐIỆP KHÚC — tiếp
9. Ye ariyasaccāni vibhāvayanti, gambhīrapaññena sudesitāni, kiñcāpi te honti bhusaṃ pamattā, na te bhavaṃ aṭṭhamamādiyanti, idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ Etena saccena suvatthi hotu.
10. Sahāvassa dassanasampadāya, tayassu dhammā jahitā bhavanti, sakkāyadiṭṭhi vicikicchitañca, sīlabbataṃ vāpi yadatthi kiñci, catūhapāyehi ca vippamutto, cha cābhiṭhānāni abhabba kātuṃ, idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ Etena saccena suvatthi hotu.
11. Kiñcāpi so kammaṃ karoti pāpakaṃ, kāyena vācā uda cetasā vā, abhabba so tassa paṭicchadāya, abhabbatā diṭṭhapadassa vuttā, idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ Etena saccena suvatthi hotu.
12. Vanappagumbe yatha phussitagge, gimhānamāse paṭhamasmiṃ gimhe, tathūpamaṃ dhammavaraṃ adesayi, nibbānagāmiṃ paramaṃ hitāya, idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ Etena saccena suvatthi hotu.
13. Varo varaññū varado varāharo, anuttaro dhammavaraṃ adesayi, idampi buddhe ratanaṃ paṇītaṃ Etena saccena suvatthi hotu.
14. Khīṇaṃ purāṇaṃ navaṃ natthi sambhavaṃ, virattacittāyatike bhavasmiṃ, te khīṇabījā avirūḷhichandā, nibbanti dhīrā yathāyaṃ padīpo, idampi saṅghe ratanaṃ paṇītaṃ Etena saccena suvatthi hotu.
15. Yānīdha bhūtāni samāgatāni, bhummāni vā yāni va antalikkhe, tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ, buddhaṃ namassāma suvatthi hotu.
16. Yānīdha bhūtāni samāgatāni, bhummāni vā yāni va antalikkhe, tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ, dhammaṃ namassāma suvatthi hotu.
17. Yānīdha bhūtāni samāgatāni, bhummāni vā yāni va antalikkhe, tathāgataṃ devamanussapūjitaṃ, saṅghaṃ namassāma suvatthi hotu.
9. Những vị thấu rõ Thánh đế do bậc Đại tuệ khéo giảng, dù có lúc còn phóng dật, cũng không còn phải tái sinh đến lần thứ tám. Đây là châu báu nơi Tăng-già. Do sự thật này, nguyện được an lành.
10. Khi thành tựu chánh kiến, ba pháp được đoạn trừ: thân kiến, hoài nghi và chấp thủ giới cấm; vị ấy thoát bốn ác đạo và không còn có thể phạm sáu trọng nghiệp. Đây là châu báu nơi Tăng-già. Do sự thật này, nguyện được an lành.
11. Dù có hành động bất thiện nào bởi thân, lời hay ý, vị đã thấy Pháp không thể che giấu điều ấy. Đây là châu báu nơi Tăng-già. Do sự thật này, nguyện được an lành.
12. Như khóm rừng trổ hoa đầu mùa hạ, Đức Phật đã thuyết giảng Chánh pháp thù thắng đưa đến Niết-bàn vì lợi ích tối thượng. Đây là châu báu nơi Đức Phật. Do sự thật này, nguyện được an lành.
13. Bậc Tối thượng, biết điều tối thượng, ban tặng và mang đến điều tối thượng, đã tuyên thuyết Chánh pháp cao quý. Đây là châu báu nơi Đức Phật.
Do sự thật này, nguyện được an lành.
14. Nghiệp cũ đã tận, không còn nhân tạo sinh hữu mới; tâm không còn tham ái đối với hữu trong tương lai, hạt giống đã đoạn, các bậc trí tịch diệt như ngọn đèn này. Đây là châu báu nơi Tăng-già. Do sự thật này, nguyện được an lành.
15. Hỡi các hữu tình tụ hội nơi đây, trên đất hay giữa hư không, chúng ta hãy đảnh lễ Đức Phật, bậc Như Lai được trời và người cung kính. Nguyện được an lành.
16. Hỡi các hữu tình tụ hội nơi đây, trên đất hay giữa hư không, chúng ta hãy đảnh lễ Chánh pháp được chư thiên và loài người tôn kính. Nguyện được an lành.
17. Hỡi các hữu tình tụ hội nơi đây, trên đất hay giữa hư không, chúng ta hãy đảnh lễ Tăng-già được chư thiên và loài người tôn kính. Nguyện được an lành.
074. KINH TỪ BI (KARAṆĪYA METTĀ SUTTA)
4. KINH TỪ BI (KARAṆĪYA METTĀ SUTTA)
(L) Karaṇīyamatthakusalena, yantaṃ santaṃ padaṃ abhisamecca,
Sakko ujū ca suhujū ca, suvaco cassa mudu anatimānī.
Santussako ca subharo ca, appakicco ca sallahukavutti,
Santindriyo ca nipako ca, appagabbho kulesvananugiddho.
Na ca khuddamācare kiñci, yena viññū pare upavadeyyuṃ,
Sukhino vā khemino hontu, sabbe sattā bhavantu sukhitattā.
Ye keci pāṇabhūtatthi, tasā vā thāvarā vanavasesā,
Dīghā vā ye va mahantā, majjhimā rassakā aṇukathūlā.
Diṭṭhā vā ye va adiṭṭhā, ye va dūre vasanti avidūre,
Bhūtā va sambhavesī va, sabbe sattā bhavantu sukhitattā.
Na paro paraṃ nikubbetha, nātimaññetha katthaci na kañci,
Byārosanā paṭighasaññā, nāññamaññassa dukkhamiccheyya.
Mātā yathā niyaṃ puttaṃ, āyusā ekaputtamanurakkhe,
Evampi sabbabhūtesu, mānasaṃ bhāvaye aparimāṇaṃ.
Mettañca sabbalokasmiṃ, mānasaṃ bhāvaye aparimāṇaṃ,
Uddhaṃ adho ca tiriyañca, asambādhaṃ averaṃ asapattaṃ.
Tiṭṭhaṃ caraṃ nisinno vā, sayāno vā yāvatāssa vigatamiddho,
Etaṃ satiṃ adhiṭṭheyya, brahmametaṃ vihāraṃ idhamāhu.
Diṭṭhiñca anupaggamma, sīlavā dassanena sampanno,
Kāmesu vineyya gedhaṃ, na hi jātu gabbhaseyyaṃ punaretīti.
Kệ kết nghi lễ (không thuộc Sn 1.8): Etena saccavajjena, sotthi te hotu sabbadā.
4. KINH TỪ BI (KARAṆĪYA METTĀ SUTTA)
Bài kinh được tụng trong các lễ cầu an, khi thăm bệnh hoặc trước thời thiền.
Bản dưới đây giữ nguyên từng dòng Pāli có trong bản gốc, kèm theo phần diễn nghĩa tiếng Việt theo từng cụm kệ.
Người thông hiểu điều thiện và hướng đến cảnh giới an tịnh cần có năng lực, ngay thẳng, hết sức chân trực, dễ được khuyên dạy, nhu hòa và không kiêu mạn.
Biết đủ, dễ nuôi dưỡng, ít công việc, sống giản dị, các căn an tịnh, thận trọng, không thô tháo và không tham luyến các gia đình.
Không làm điều nhỏ nhặt nào mà bậc trí có thể quở trách. Nguyện tất cả chúng sinh được an vui, an ổn, có tâm hạnh phúc.
Dù là chúng sinh nào, yếu hay mạnh, không trừ một ai; dài hay lớn, trung bình, ngắn, nhỏ hay thô lớn;
đã thấy hay chưa thấy, ở xa hay ở gần, đã sinh hay đang tìm nơi tái sinh: nguyện tất cả chúng sinh được an vui.
Nguyện không ai lừa dối hay khinh miệt người khác ở bất cứ nơi đâu; không vì sân hận hay ác ý mà mong người khác chịu khổ đau.
Như người mẹ lấy cả sinh mạng bảo vệ đứa con duy nhất, cũng vậy hãy tu tập tâm từ vô lượng đối với tất cả hữu tình.
Hãy phát triển tâm từ vô lượng khắp thế gian, phía trên, phía dưới và mọi phương, không ngăn ngại, không thù hận, không oan trái.
Dù đứng, đi, ngồi hay nằm, hễ còn tỉnh thức thì hãy duy trì niệm ấy. Đây được gọi là phạm trú ngay trong đời này.
Không chấp thủ tà kiến, đầy đủ giới hạnh và tri kiến, nhiếp phục tham ái đối với dục lạc; vị ấy không còn trở lại nằm trong thai bào.
Lời kết truyền thống: Do lời chân thật này, nguyện người luôn được an lành.
085. TÁM BÀI KỆ CHIẾN THẮNG CỦA ĐỨC PHẬT (JAYAMAṄGALA AṬṬHAGĀTHĀ)
5. JAYAMAṄGALA AṬṬHAGĀTHĀ
1. Māra
Bāhuṃ sahassamabhinimmita sāvudhantaṃ,
Grīmekhalaṃ udita-ghora-sasena-māraṃ,
Dānādi-dhamma-vidhinā jitavā munindo,
Taṃ tejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
2. Āḷavaka
Mārātirekamabhiyujjhita-sabbarattiṃ,
Ghorampanāḷavakamakkhamathaddhayakkhaṃ,
Khantī-sudanta-vidhinā jitavā munindo,
Taṃ tejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
3. Nāḷāgiri
Nāḷāgiriṃ gajavaraṃ atimattabhūtaṃ,
Dāvaggi-cakkamasanīva sudāruṇantaṃ,
Mettambuseka-vidhinā jitavā munindo,
Taṃ tejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
4. Aṅgulimāla
Ukkhitta-khaggamatihattha-sudāruṇantaṃ,
Dhāvanti-yojanapathaṅgulimālavantaṃ,
Iddhībhisaṅkhata-mano jitavā munindo,
Taṃ tejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
5. TÁM BÀI KỆ CHIẾN THẮNG CỦA ĐỨC PHẬT (JAYAMAṄGALA AṬṬHAGĀTHĀ)
Bài kệ truyền thống tán thán tám sự chiến thắng của Đức Phật. Đây là sáng tác nghi lễ hậu kỳ, không được trình bày như một bài kinh nguyên văn thuộc Nikāya. Mỗi kệ gồm bốn dòng Pāli; dòng cuối là lời chúc thắng lợi an lành.
1. Chiến thắng Ma vương
Ma vương hóa hiện ngàn cánh tay cầm binh khí, cưỡi voi Girimekhala cùng quân binh hung dữ. Đức Mâu-ni chiến thắng nhờ những thiện pháp, đứng đầu là bố thí. Do oai lực ấy, nguyện các điều thắng lợi cát tường đến với người.
2. Nhiếp phục dạ-xoa Āḷavaka
Dạ-xoa Āḷavaka hung hãn, ngạo mạn, giao tranh suốt đêm còn dữ dội hơn Ma vương. Đức Mâu-ni nhiếp phục bằng đức nhẫn nhục được điều luyện.
Do oai lực ấy, nguyện các điều thắng lợi cát tường đến với người.
3. Nhiếp phục voi Nāḷāgiri
Voi chúa Nāḷāgiri say cuồng, dữ dằn như lửa rừng và sấm sét, được Đức Mâu-ni nhiếp phục bằng dòng nước tâm từ. Do oai lực ấy, nguyện các điều thắng lợi cát tường đến với người.
4. Nhiếp phục Aṅgulimāla
Aṅgulimāla hung bạo cầm gươm giơ cao, đuổi theo Đức Phật trên đường xa.
Đức Mâu-ni nhiếp phục bằng thần thông và tâm lực. Do oai lực ấy, nguyện các điều thắng lợi cát tường đến với người.
095. Hóa giải sự vu khống của Ciñcā
5. Ciñcā
Katvāna kaṭṭhamudaraṃ iva gabbhinīyā,
Ciñcāya duṭṭha-vacanaṃ janakāya majjhe,
Santena soma-vidhinā jitavā munindo,
Taṃ tejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
6. Saccaka
Saccaṃ vihāya mati-saccaka-vādaketuṃ,
Vādābhiropita-manaṃ ati-andhabhūtaṃ,
Paññā-padīpa-jalito jitavā munindo,
Taṃ tejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
7. Nhiếp phục long vương Nandopananda
Nandopananda-bhujagaṃ vibudhaṃ mahiddhiṃ,
Iddhūpadesa-vidhinā jitavā munindo,
Taṃ tejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
8. Hóa giải tà kiến của Phạm thiên Baka
Duggāha-diṭṭhi-bhujagena sudaṭṭha-hatthaṃ,
Brahmaṃ visuddhi-jutimiddhi-bakābhidhānaṃ,
Ñāṇāgadena vidhinā jitavā munindo,
Taṃ tejasā bhavatu te jayamaṅgalāni.
Kệ kết
Etāpi buddha-jayamaṅgala-aṭṭhagāthā, yo vācano dinadine sarate matandī, hitvānaneka-vividhāni cupaddavāni, mokkhaṃ sukhaṃ adhigameyya naro sapañño.
5. Hóa giải sự vu khống của Ciñcā
Ciñcā buộc khúc gỗ vào bụng, giả mang thai rồi vu cáo Đức Phật trước hội chúng. Đức Mâu-ni vượt qua bằng sự tĩnh lặng và nhu hòa. Do oai lực ấy, nguyện các điều thắng lợi cát tường đến với người.
6. Thắng luận sư Saccaka
Saccaka giương cao ngọn cờ tranh luận, bị che mờ bởi sự chấp thủ quan điểm. Đức Mâu-ni dùng ngọn đèn trí tuệ để nhiếp phục. Do oai lực ấy, nguyện các điều thắng lợi cát tường đến với người.
7. Nhiếp phục long vương Nandopananda
Long vương Nandopananda thông minh và có đại thần lực được Đức Phật điều phục qua vị đệ tử trưởng lão Moggallāna bằng thần thông và sự hướng dẫn. Do oai lực ấy, nguyện các điều thắng lợi cát tường đến với người.
8. Hóa giải tà kiến của Phạm thiên Baka
Phạm thiên Baka rực rỡ và nhiều thần lực nhưng bị tà kiến trói buộc. Đức Mâu-ni dùng dược phẩm trí tuệ hóa giải. Do oai lực ấy, nguyện các điều thắng lợi cát tường đến với người.
Kệ kết
Người có trí thường xuyên tụng đọc và ghi nhớ tám kệ thắng lợi của Đức Phật, không biếng nhác, sẽ vượt qua nhiều thứ tai ương và hướng đến an vui, giải thoát. Đây là lời phát nguyện theo truyền thống tụng niệm.
KỆ HỘ TRÌ CHIẾN THẮNG (JAYA PARITTA)
Đức Bậc Đại Bi, vì lợi ích của tất cả chúng sinh, đã viên mãn các pháp ba-la-mật và chứng đạt Vô thượng Chánh đẳng giác.
10Các kệ chúc phúc tiếp theo
Puttena thera-bhujagena damāpayanto,
Jaya Paritta
Mahākāruṇiko nātho, hitāya sabbapāṇinaṃ,
Pūretvā pāramī sabbā, patto sambodhimuttamaṃ,
Etena saccavajjena, hotu te jayamaṅgalaṃ.
Jayanto bodhiyā mūle, sakyānaṃ nandivaḍḍhano,
Evaṃ tvaṃ vijayo hohi, jayassu jayamaṅgale.
Aparājita-pallaṅke, sīse paṭhavipokkhare,
Abhiseke sabbabuddhānaṃ, aggappatto pamodati.
Maṅgala Gāthā
Sunakkhattaṃ sumaṅgalaṃ, supabhātaṃ suhuṭṭhitaṃ,
Sukhaṇo sumuhutto ca, suyiṭṭhaṃ brahmacārisu.
Padakkhiṇaṃ kāyakammaṃ, vācākammaṃ padakkhiṇaṃ,
Padakkhiṇaṃ manokammaṃ, paṇidhī te padakkhiṇā,
Padakkhiṇāni katvāna, labhantatthe padakkhiṇe.
Maṅgala Gāthā — Nigamana
Bhavatu sabbamaṅgalaṃ, rakkhantu sabbadevatā, sabbabuddhānubhāvena, sadā sotthī bhavantu te.
Bhavatu sabbamaṅgalaṃ, rakkhantu sabbadevatā, sabbadhammānubhāvena, sadā sotthī bhavantu te.
Bhavatu sabbamaṅgalaṃ, rakkhantu sabbadevatā, sabbasaṅghānubhāvena, sadā sotthī bhavantu te.
Do lời chân thật này, nguyện người được thắng lợi và cát tường.
Bậc đem niềm vui đến dòng họ Thích-ca đã chiến thắng dưới cội Bồ-đề; cũng vậy, nguyện người chiến thắng và đạt mọi điều tốt lành.
Trên tòa ngồi bất khả chiến bại, tại trung tâm mặt đất, bậc đạt tối thượng hân hoan trong sự thành tựu. Đây là lời tụng truyền thống.
Các kệ chúc phúc tiếp theo
Đối với người thực hành thiện pháp, đó chính là vì sao tốt, điềm lành, bình minh tốt đẹp, giờ phút thuận lợi và sự cúng dường đáng quý đến các bậc phạm hạnh.
Thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp và tâm nguyện chân chánh đem lại những kết quả tốt đẹp cho người thực hành đúng đắn.
(Theo một số truyền thống, câu sau được tụng ba lần, mỗi lần xướng tên người được chúc lành:) Te atthaladdhā sukhitā, viruḷhā buddhasāsane, arogā sukhitā hotha, saha sabbehi ñātibhi.
Trong một số truyền thống, câu chúc nguyện này được tụng ba lần, hướng đến người đang được chúc phúc. Nguyện người được lợi ích, an vui, tăng trưởng trong Giáo pháp của Đức Phật, khỏe mạnh và hạnh phúc cùng thân quyến.
Kệ chúc lành kết thúc
Nguyện mọi điều cát tường đến với người, nguyện chư thiên hộ trì. Nhờ oai lực của Đức Phật, Chánh pháp và Tăng-già, nguyện người luôn được an lành. (Trong bản nguồn, mỗi câu tụng lần lượt quy hướng về Phật, Pháp và Tăng.)
116. MƯỜI PHÁP BA-LA-MẬT (DASA PĀRAMĪ)
6. DASA PĀRAMĪ
Dāna pāramī sampanno, dāna upapāramī sampanno, dāna paramattha-pāramī sampanno.
Sīla pāramī sampanno, sīla upapāramī sampanno, sīla paramattha-pāramī sampanno.
Nekkhamma pāramī sampanno, nekkhamma upapāramī sampanno, nekkhamma paramattha-pāramī sampanno.
Paññā pāramī sampanno, paññā upapāramī sampanno, paññā paramattha-pāramī sampanno.
Viriya pāramī sampanno, viriya upapāramī sampanno, viriya paramattha-pāramī sampanno.
6. MƯỜI PHÁP BA-LA-MẬT (DASA PĀRAMĪ)
Bài tụng truyền thống nêu mười ba-la-mật với ba mức độ: pāramī (ba-la-mật), upapāramī (thượng ba-la-mật), paramattha-pāramī (tối thượng ba-la-mật). Bản nguồn sắp xếp văn Pāli và bản Anh xen kẽ; ở đây đặt chung theo đúng thứ tự nội dung.
(L) Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa. (ba lần)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác. (Ba lần.)
Đã viên mãn bố thí ba-la-mật, bố thí thượng ba-la-mật và bố thí tối thượng ba-la-mật.
Đã viên mãn trì giới ba-la-mật, trì giới thượng ba-la-mật và trì giới tối thượng ba-la-mật.
Đã viên mãn xuất ly ba-la-mật, xuất ly thượng ba-la-mật và xuất ly tối thượng ba-la-mật.
Đã viên mãn trí tuệ ba-la-mật, trí tuệ thượng ba-la-mật và trí tuệ tối thượng ba-la-mật.
Đã viên mãn tinh tấn ba-la-mật, tinh tấn thượng ba-la-mật và tinh tấn tối thượng ba-la-mật.
12Etena saccavajjena, sotthi te hotu sabbadā. (ba lần)
Khanti pāramī sampanno, khanti upapāramī sampanno, khanti paramattha-pāramī sampanno.
Sacca pāramī sampanno, sacca upapāramī sampanno, sacca paramattha-pāramī sampanno.
Adhiṭṭhāna pāramī sampanno, adhiṭṭhāna upapāramī sampanno, adhiṭṭhāna paramattha-pāramī sampanno.
Mettā pāramī sampanno, mettā upapāramī sampanno, mettā paramattha-pāramī sampanno.
Upekkhā pāramī sampanno, upekkhā upapāramī sampanno, upekkhā paramattha-pāramī sampanno.
Dasa pāramī sampanno, dasa upapāramī sampanno, dasa paramattha-pāramī sampanno.
Mettā karuṇā muditā upekkhā sampanno.
Đã viên mãn nhẫn nại ba-la-mật, nhẫn nại thượng ba-la-mật và nhẫn nại tối thượng ba-la-mật.
Đã viên mãn chân thật ba-la-mật, chân thật thượng ba-la-mật và chân thật tối thượng ba-la-mật.
Đã viên mãn quyết định ba-la-mật, quyết định thượng ba-la-mật và quyết định tối thượng ba-la-mật.
Đã viên mãn tâm từ ba-la-mật, tâm từ thượng ba-la-mật và tâm từ tối thượng ba-la-mật.
Đã viên mãn tâm xả ba-la-mật, tâm xả thượng ba-la-mật và tâm xả tối thượng ba-la-mật.
Đã viên mãn mười ba-la-mật, mười thượng ba-la-mật và mười tối thượng ba-la-mật.
Đầy đủ tâm từ, tâm bi, tâm hỷ và tâm xả.
Etena saccavajjena, sotthi te hotu sabbadā. (ba lần)
Do lời chân thật này, nguyện người luôn được an lành. (Ba lần.)
Ghi chú: thứ tự và hình thức tụng mười ba-la-mật có thể khác nhau tùy truyền thống. Đây là kệ nghi lễ, không đồng nghĩa với một công thức pháp lý trong Tạng Luật.
137. KINH HỘ TRÌ KHANDHA (KHANDHA PARITTA)
7. KINH HỘ TRÌ KHANDHA (KHANDHA PARITTA)
Virūpakkhehi me mettaṃ, mettaṃ erāpathehi me,
Chabyāputtehi me mettaṃ, mettaṃ kaṇhāgotamakehi ca.
Apādakehi me mettaṃ, mettaṃ dipādakehi me,
Catuppadehi me mettaṃ, mettaṃ bahuppadehi me.
Mā maṃ apādako hiṃsi, mā maṃ hiṃsi dipādako,
Mā maṃ catuppado hiṃsi, mā maṃ hiṃsi bahuppado.
Sabbe sattā sabbe pāṇā, sabbe bhūtā ca kevalā,
Sabbe bhadrāni passantu, mā kiñci pāpamāgamā.
Appamāṇo buddho, appamāṇo dhammo, appamāṇo saṅgho. Pamāṇavantāni sarīsapāni, ahi vicchikā satapadī, uṇṇānābhī sarabū mūsikā.
Katā me rakkhā, katā me parittā, paṭikkamantu bhūtāni. Sohaṃ namo bhagavato, namo sattannaṃ sammāsambuddhānaṃ.
7. KINH HỘ TRÌ KHANDHA (KHANDHA PARITTA)
Bài tụng nuôi dưỡng tâm từ đối với các loài rắn và chúng sinh. Không nên hiểu đây là sự bảo đảm tránh được mọi tai nạn hay thay thế những biện pháp phòng hộ thực tế.
Tôi trải tâm từ đến các loài rắn Virūpakkha, Erāpatha, Chabyāputta và Kaṇhāgotamaka.
Tôi trải tâm từ đến loài không chân, hai chân, bốn chân và nhiều chân.
Nguyện loài không chân, hai chân, bốn chân và nhiều chân không làm hại tôi.
Nguyện tất cả chúng sinh, mọi loài có hơi thở và mọi hữu tình đều gặp điều tốt lành; nguyện điều ác không đến với bất cứ ai.
Đức Phật vô lượng, Chánh pháp vô lượng, Tăng-già vô lượng; còn các loài bò sát có hạn lượng, như rắn, bò cạp, rết, nhện, thằn lằn và chuột.
Tôi đã thiết lập sự hộ trì, đã thực hành lời kinh hộ trì. Mong các hữu tình rời khỏi đây. Tôi kính lễ Đức Thế Tôn, kính lễ bảy vị Chánh đẳng Chánh giác.
Ghi chú văn bản: phiên bản Pāli và truyền thống tụng niệm cần được đối chiếu riêng với AN 4.67 và nguồn nghi lễ đã chọn; không tự mặc nhận toàn bộ câu tụng thuộc cùng một lớp kinh điển.
148. KINH HỘ TRÌ CON CÔNG (MORA PARITTA) — BẢN TỤNG THEO NGUỒN
8. KINH HỘ TRÌ CON CÔNG (MORA PARITTA) — BẢN TỤNG THEO NGUỒN
Pubbaṇhasamaya
Udetayaṃ cakkhumā ekarājā, harissavaṇṇo pathavippabhāso,
Taṃ taṃ namassāmi harissavaṇṇaṃ pathavippabhāsaṃ, tayājja guttā viharemu divasaṃ.
Ye brāhmaṇā vedagū sabbadhamme, te me namo te ca maṃ pālayantu,
Namatthu buddhānaṃ namatthu bodhiyā, namo vimuttānaṃ namo vimuttiyā.
Imaṃ so parittaṃ katvā, moro carati esanā.
Sāyanhasamaya
Apetayaṃ cakkhumā ekarājā, harissavaṇṇo pathavippabhāso,
Taṃ taṃ namassāmi harissavaṇṇaṃ pathavippabhāsaṃ, tayājja guttā viharemu rattiṃ.
Ye brāhmaṇā vedagū sabbadhamme, te me namo te ca maṃ pālayantu,
Namatthu buddhānaṃ namatthu bodhiyā, namo vimuttānaṃ namo vimuttiyā.
Imaṃ so parittaṃ katvā, moro vāsamakappayī.
8. KINH HỘ TRÌ CON CÔNG (MORA PARITTA) — BẢN TỤNG THEO NGUỒN
Theo truyền thống truyện tiền thân, Bồ-tát khi sinh làm chim công vàng tụng bài hộ trì vào lúc bình minh và chiều tối. Dưới đây giữ các câu Pāli xuất hiện trong sách nguồn; tên gọi và dị bản phải được kiểm chứng trước khi xác nhận là toàn văn.
Buổi sáng
Mặt trời, vị vua duy nhất có con mắt soi chiếu thế gian, rạng sắc vàng, làm sáng mặt đất đang mọc lên. Tôi đảnh lễ vị rạng sắc vàng ấy; nhờ sự hộ trì này, nguyện chúng tôi sống an ổn suốt ngày.
Tôi kính lễ các bậc đã thông đạt mọi pháp; nguyện các vị hộ trì tôi. Kính lễ chư Phật, sự giác ngộ, các bậc giải thoát và sự giải thoát.
Sau khi thực hành bài hộ trì này, chim công đi tìm thức ăn.
Buổi chiều
Mặt trời, vị vua duy nhất có con mắt soi chiếu thế gian, rạng sắc vàng, làm sáng mặt đất đang lặn xuống. Tôi đảnh lễ vị ấy; nhờ sự hộ trì này, nguyện chúng tôi sống an ổn suốt đêm.
Tôi kính lễ các bậc đã thông đạt mọi pháp; nguyện các vị hộ trì tôi. Kính lễ chư Phật, sự giác ngộ, các bậc giải thoát và sự giải thoát.
Sau khi thực hành bài hộ trì này, chim công trở về nơi nghỉ ngơi.
159. KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN (DHAMMACAKKAPPAVATTANA SUTTA) — BẢN TRÍCH TỤNG
9. DHAMMACAKKAPPAVATTANA SUTTA
Nidāna — Dve Antā
(L) Evaṃ me sutaṃ. Ekaṃ samayaṃ bhagavā bārāṇasiyaṃ viharati isipatane migadāye. Tatra kho bhagavā pañcavaggiye bhikkhū āmantesi:
Dveme bhikkhave antā pabbajitena na sevitabbā. Katame dve? Yo cāyaṃ kāmesu kāmasukhallikānuyogo, hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṃhito; yo cāyaṃ attakilamathānuyogo, dukkho anariyo anatthasaṃhito.
Ete kho bhikkhave ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
Katamā ca sā bhikkhave majjhimā paṭipadā …? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ: sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.
Cattāri Ariyasaccāni
Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhaṃ ariyasaccaṃ: jātipi dukkhā, jarāpi dukkhā, byādhipi dukkho, maraṇampi dukkhaṃ, appiyehi sampayogo dukkho, piyehi vippayogo dukkho, yampicchaṃ na labhati tampi dukkhaṃ, saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.
Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ: yāyaṃ taṇhā ponobbhavikā nandirāgasahagatā tatratatrābhinandinī, seyyathidaṃ: kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā.
9. KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN (DHAMMACAKKAPPAVATTANA SUTTA) — BẢN TRÍCH TỤNG
Kinh đầu tiên Đức Phật thuyết cho nhóm năm vị Tỳ-khưu tại vườn Nai Isipatana gần Bārāṇasī. Trong một số truyền thống, kinh được tụng vào lễ Āsāḷha Pūjā và các dịp lễ trọng. Sách nguồn trình bày có lược bỏ nên đây không phải nguyên văn trọn vẹn.
Duyên khởi và hai cực đoan
Tôi được nghe như vầy: Một thời Đức Thế Tôn trú tại Bārāṇasī, nơi vườn Nai Isipatana. Tại đó, Ngài gọi nhóm năm vị Tỳ-khưu mà dạy rằng:
Này các Tỳ-khưu, có hai cực đoan mà người xuất gia không nên thực hành.
Một là đắm mình trong dục lạc, thấp kém, phàm tục, không thuộc bậc Thánh, không đưa đến lợi ích. Hai là tự hành hạ thân xác, khổ đau, không thuộc bậc Thánh và không đưa đến lợi ích.
Không đi theo hai cực đoan ấy, Như Lai đã giác ngộ Trung đạo, con đường làm phát sinh tri kiến, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.
Trung đạo ấy chính là Thánh đạo tám ngành: Chánh kiến, Chánh tư duy,
Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.
Bốn Thánh đế
Đây là Thánh đế về khổ: sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ; gặp điều không ưa là khổ, xa lìa điều thương mến là khổ, mong cầu mà không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.
Đây là Thánh đế về nguyên nhân của khổ: ái đưa đến tái hữu, đi đôi với hỷ và tham, tìm cầu khoái lạc chỗ này chỗ khác; ấy là dục ái, hữu ái và phi hữu ái.
16Ngài Koṇḍañña chứng pháp nhãn
Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ: yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo.
Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ: ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ: sammādiṭṭhi … sammāsamādhi.
Tiparivaṭṭaṃ Dvādasākāraṃ
Idaṃ dukkhaṃ ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi, paññā udapādi, vijjā udapādi, āloko udapādi.
Akuppā me vimutti, ayamantimā jāti, natthidāni punabbhavoti.
Koṇḍaññassa Dhammacakkhu
Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṃ bhaññamāne, āyasmato koṇḍaññassa virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādi: yaṅkiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ nirodhadhammanti.
Pavattite ca bhagavatā dhammacakke, bhummā devā saddamanussāvesuṃ: etaṃ bhagavatā bārāṇasiyaṃ isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ, appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasminti.
Ayañca dasasahassī lokadhātu saṅkampi sampakampi sampavedhi, appamāṇo ca uḷāro obhāso loke pāturahosi.
Atha kho bhagavā udānaṃ udānesi: aññāsi vata bho koṇḍañño, aññāsi vata bho koṇḍaññoti. Iti hidaṃ āyasmato koṇḍaññassa aññāsikoṇḍañño tveva nāmaṃ ahosīti.
Đây là Thánh đế về sự diệt khổ: sự đoạn diệt không còn dư sót của chính ái ấy, từ bỏ, buông xả, giải thoát và không chấp thủ.
Đây là Thánh đế về con đường đưa đến diệt khổ: chính là Thánh đạo tám ngành.
Ba chuyển và mười hai hành tướng — đoạn được trích trong nguồn “Đây là Thánh đế về khổ”: đối với pháp trước kia chưa từng được nghe, nơi Ta phát sinh con mắt pháp, trí, tuệ, minh và ánh sáng.
Sách nguồn rút gọn phần còn lại của ba chuyển và mười hai hành tướng.
Toàn phần phải được đối chiếu với bản đầy đủ của SN 56.11 trước khi dùng như bản tụng nguyên văn.
Sự giải thoát của Ta không còn bị lay chuyển. Đây là đời sống cuối cùng, từ nay không còn tái sanh nữa.
Ngài Koṇḍañña chứng pháp nhãn
Trong khi pháp thoại được tuyên thuyết, nơi Tôn giả Koṇḍañña phát sinh pháp nhãn không còn cấu uế: pháp nào có tánh sanh khởi, tất cả pháp ấy đều có tánh đoạn diệt.
Khi Đức Thế Tôn chuyển vận bánh xe Chánh pháp, chư thiên ở mặt đất đồng thanh tuyên bố: tại vườn Nai Isipatana ở Bārāṇasī, Đức Thế Tôn đã chuyển vận Pháp luân vô thượng, không một Sa-môn, Bà-la-môn, thiên, Ma hay Phạm thiên nào có thể chuyển vận ngược lại.
Sách nguồn chỉ tóm lược tiếng hoan hô được truyền qua các tầng trời, chứ không chép đầy đủ các đoạn lặp.
Mười ngàn thế giới chấn động, rung chuyển và lay động; một ánh sáng vô lượng, thù thắng xuất hiện trong thế gian.
Bấy giờ Đức Thế Tôn thốt lên: “Koṇḍañña đã hiểu! Koṇḍañña đã hiểu!”. Do vậy, Tôn giả được gọi là Aññāsi Koṇḍañña — Koṇḍañña, người đã hiểu.
1710. KINH VÔ NGÃ TƯỚNG (ANATTALAKKHAṆA SUTTA) — BẢN TRÍCH TỤNG
10. ANATTALAKKHAṆA SUTTA
(L) Evaṃ me sutaṃ. Ekaṃ samayaṃ bhagavā bārāṇasiyaṃ viharati isipatane migadāye. Tatra kho bhagavā pañcavaggiye bhikkhū āmantesi:
Rūpaṃ Anattā
Rūpaṃ bhikkhave anattā. Rūpañca hidaṃ bhikkhave attā abhavissa, nayidaṃ rūpaṃ ābādhāya saṃvatteyya, labbhetha ca rūpe: evaṃ me rūpaṃ hotu, evaṃ me rūpaṃ mā ahosīti. Yasmā ca kho bhikkhave rūpaṃ anattā, tasmā rūpaṃ ābādhāya saṃvattati, na ca labbhati rūpe: evaṃ me rūpaṃ hotu, evaṃ me rūpaṃ mā ahosīti.
Aniccaṃ Dukkhaṃ
Taṃ kiṃ maññatha bhikkhave, rūpaṃ niccaṃ vā aniccaṃ vāti? · Aniccaṃ bhante.
Yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vāti? · Dukkhaṃ bhante.
Yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ: etaṃ mama, esohamasmi, eso me attāti? · No hetaṃ bhante.
10. KINH VÔ NGÃ TƯỚNG (ANATTALAKKHAṆA SUTTA) — BẢN TRÍCH TỤNG
Đức Phật giảng về tính vô ngã của năm uẩn cho nhóm năm vị Tỳ-khưu.
Sách nguồn dùng một số câu mẫu và chỉ dẫn lặp lại cho các uẩn còn lại; vì vậy không thể gọi đây là toàn văn nguyên kinh.
Tôi được nghe như vầy: Một thời Đức Thế Tôn trú tại vườn Nai Isipatana gần Bārāṇasī. Tại đó, Ngài gọi nhóm năm vị Tỳ-khưu.
Sắc uẩn không phải tự ngã
Này các Tỳ-khưu, sắc là vô ngã. Nếu sắc là tự ngã, sắc đã không đưa đến bệnh khổ và người ta có thể sai khiến sắc: “Sắc của tôi hãy như thế này; sắc của tôi đừng như thế kia.” Nhưng vì sắc là vô ngã nên không thể sai khiến như vậy.
Lời giảng tương ứng áp dụng cho thọ, tưởng, hành và thức. Bản nguồn nêu cách thay các danh từ Pāli chứ không in đầy đủ mọi lần lặp.
18Đối thoại về vô thường và khổ
Yathābhūtaṃ Sammappaññāya
Tasmātiha bhikkhave yaṅkiñci rūpaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ, ajjhattaṃ vā bahiddhā vā, oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā, hīnaṃ vā paṇītaṃ vā, yaṃ dūre santike vā, sabbaṃ rūpaṃ: netaṃ mama, nesohamasmi, na meso attāti, evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.
Nibbidā — Virāga — Vimutti
Evaṃ passaṃ bhikkhave sutavā ariyasāvako, rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati. Nibbindaṃ virajjati, virāgā vimuccati, vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti. Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyāti pajānātīti.
Idamavoca bhagavā. Attamanā pañcavaggiyā bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinanduṃ. Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṃ bhaññamāne, pañcavaggiyānaṃ bhikkhūnaṃ anupādāya āsavehi cittāni vimucciṃsūti.
Đối thoại về vô thường và khổ
Này các Tỳ-khưu, sắc là thường hay vô thường? — Bạch Thế Tôn, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ hay lạc? — Bạch Thế Tôn, là khổ. Đối với cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến đổi, có thích đáng xem đó là “cái này của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi” chăng? — Bạch Thế Tôn, không.
Quán chiếu với chánh trí
Do vậy, bất cứ sắc nào thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại; ở trong hay ở ngoài; thô hay tế; thấp kém hay cao quý; xa hay gần, tất cả sắc ấy cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.”
Nhàm chán, ly tham và giải thoát
Thấy như vậy, vị Thánh đệ tử có nghe học sanh tâm nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Khi giải thoát, vị ấy biết mình đã giải thoát, biết sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái hiện hữu này.
Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Nhóm năm vị Tỳ-khưu hoan hỷ, tín thọ lời Ngài. Trong khi pháp thoại đang được tuyên thuyết, tâm của cả năm vị được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
1911. DUYÊN KHỞI (PAṬICCASAMUPPĀDA) — BÀI TỤNG TÓM LƯỢC
11. PAṬICCASAMUPPĀDA
Anuloma
Avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṃ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Chiều đoạn diệt (paṭiloma)
Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho, saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho, nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho, saḷāyatananirodhā phassanirodho, phassanirodhā vedanānirodho, vedanānirodhā taṇhānirodho, taṇhānirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
Kệ cảm hứng (Udāna)
Yadā have pātubhavanti dhammā, ātāpino jhāyato brāhmaṇassa,
Athassa kaṅkhā vapayanti sabbā, yato pajānāti sahetudhammaṃ.
11. DUYÊN KHỞI (PAṬICCASAMUPPĀDA) — BÀI TỤNG TÓM LƯỢC
Bài tụng về mười hai chi duyên khởi, thường được dùng trong các dịp tu học, tưởng niệm và lễ tang. Đây là bản trình bày tóm lược theo sách nguồn, không phải trọn vẹn mọi bài kinh về duyên khởi.
Chiều sanh khởi (anuloma)
Do vô minh làm duyên, hành sanh; do hành làm duyên, thức sanh; do thức làm duyên, danh sắc sanh; do danh sắc làm duyên, sáu xứ sanh; do sáu xứ làm duyên, xúc sanh; do xúc làm duyên, thọ sanh; do thọ làm duyên, ái sanh; do ái làm duyên, thủ sanh; do thủ làm duyên, hữu sanh; do hữu làm duyên, sanh sanh; do sanh làm duyên, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi.
Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn.
Chiều đoạn diệt (paṭiloma)
Do vô minh đoạn diệt hoàn toàn, hành đoạn diệt; do hành đoạn diệt, thức đoạn diệt; tuần tự cho đến do sanh đoạn diệt thì già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn.
Kệ cảm hứng (Udāna)
Khi các pháp hiện rõ đối với bậc Bà-la-môn tinh cần tu thiền, mọi nghi hoặc của vị ấy đều tiêu tan, vì vị ấy đã thấu rõ các pháp cùng với nhân duyên của chúng.
2012. KINH GIRIMĀNANDA (AN 10.60) — MƯỜI TƯỞNG, BẢN TRÍCH TỤNG
12. KINH GIRIMĀNANDA (AN 10.60) — MƯỜI TƯỞNG, BẢN TRÍCH TỤNG
(L) Sace kho tvaṃ ānanda girimānandassa bhikkhuno upasaṅkamitvā dasa saññā bhāseyyāsi, ṭhānaṃ kho panetaṃ vijjati yaṃ girimānandassa bhikkhuno dasa saññā sutvā so ābādho ṭhānaso paṭippassambheyya. Katamā dasa?
Aniccasaññā, anattasaññā, asubhasaññā, ādīnavasaññā, pahānasaññā, virāgasaññā, nirodhasaññā, sabbaloke anabhiratasaññā, sabbasaṅkhāresu aniccasaññā, ānāpānassati.
Aniccasaññā
Katamā cānanda aniccasaññā? Idhānanda bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati: rūpaṃ aniccaṃ, vedanā aniccā, saññā aniccā, saṅkhārā aniccā, viññāṇaṃ aniccanti. Iti imesu pañcasu upādānakkhandhesu aniccānupassī viharati. Ayaṃ vuccatānanda aniccasaññā.
Atha kho āyasmato girimānandassa ime dasa saññā sutvā so ābādho ṭhānaso paṭippassambhi. Vuṭṭhahi cāyasmā girimānando tamhā ābādhā.
12. KINH GIRIMĀNANDA (AN 10.60) — MƯỜI TƯỞNG, BẢN TRÍCH TỤNG
Theo kinh, Đức Phật dạy Tôn giả Ānanda trình bày mười tưởng cho Tỳ-khưu Girimānanda đang lâm bệnh. Tài liệu gốc không in toàn bộ phần giải thích của mười tưởng, vì vậy đây chỉ là bản trích tuyển. Không nên xem việc tụng đọc thay thế điều trị y khoa.
Này Ānanda, nếu ông đến gặp Tỳ-khưu Girimānanda và nói cho vị ấy nghe mười tưởng, có thể sau khi nghe mười tưởng, bệnh của vị ấy được lắng dịu ngay. Mười tưởng ấy là gì?
Tưởng vô thường; tưởng vô ngã; tưởng bất tịnh; tưởng về sự nguy hại; tưởng đoạn trừ; tưởng ly tham; tưởng đoạn diệt; tưởng không thích thú đối với toàn thế gian; tưởng vô thường trong tất cả hành; và niệm hơi thở vào, hơi thở ra.
Tưởng vô thường — đoạn đầu kinh
Này Ānanda, thế nào là tưởng vô thường? Ở đây, vị Tỳ-khưu đi đến khu rừng, dưới gốc cây hoặc nơi trú vắng, rồi quán xét: sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường. Như vậy, vị ấy an trú quán vô thường nơi năm thủ uẩn. Này Ānanda, đây được gọi là tưởng vô thường.
Các phần giải thích chín tưởng còn lại và mười sáu bước niệm hơi thở không có nguyên văn đầy đủ trong tài liệu nguồn. Cần đối chiếu bản AN 10.60 đầy đủ nếu muốn biên soạn nghi thức tụng trọn kinh.
Sau khi nghe mười tưởng ấy, bệnh của Tôn giả Girimānanda được lắng dịu ngay; Tôn giả đã hồi phục khỏi cơn bệnh.
2113. BA MƯƠI BẢY PHẨM TRỢ ĐẠO (BODHIPAKKHIYĀ DHAMMĀ)
13. BODHIPAKKHIYĀ DHAMMĀ
Cattāro Satipaṭṭhānā
Kāyānupassanā, vedanānupassanā, cittānupassanā, dhammānupassanā.
Cattāro Sammappadhānā
Saṃvarappadhāna, pahānappadhāna, bhāvanāppadhāna, anurakkhaṇāppadhāna.
Cattāro Iddhipādā
Chanda, viriya, citta, vīmaṃsā.
Pañcindriyāni
Saddhindriya, viriyindriya, satindriya, samādhindriya, paññindriya.
Pañca Balāni
Saddhābala, viriyabala, satibala, samādhibala, paññābala.
Satta Bojjhaṅgā
Satisambojjhaṅga, dhammavicayasambojjhaṅga, viriyasambojjhaṅga, pītisambojjhaṅga, passaddhisambojjhaṅga, samādhisambojjhaṅga, upekkhāsambojjhaṅga.
Ariyo Aṭṭhaṅgiko Maggo
Sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.
Saṅgaha Gāthā
Cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Ime sattatiṃsa bodhipakkhiyā dhammā.
13. BA MƯƠI BẢY PHẨM TRỢ ĐẠO (BODHIPAKKHIYĀ DHAMMĀ)
Bản liệt kê 37 pháp trợ giúp giác ngộ trong bảy nhóm; được tụng trong các khóa tu và trước thời pháp. Những câu dưới đây giữ nguyên thứ tự Pāli theo sách nguồn.
Bốn niệm xứ
Quán thân, quán thọ, quán tâm và quán pháp.
Bốn chánh cần
Ngăn ngừa điều bất thiện chưa sanh; đoạn trừ điều bất thiện đã sanh; làm sanh khởi điều thiện chưa sanh; duy trì và tăng trưởng điều thiện đã sanh.
Bốn như ý túc
Dục, tinh tấn, tâm và thẩm sát.
Năm căn
Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và tuệ căn.
Năm lực
Tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực và tuệ lực.
Bảy giác chi
Niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi và xả giác chi.
Thánh đạo tám ngành
Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.
Kệ tổng kết
Bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi và Thánh đạo tám ngành: đó là ba mươi bảy pháp trợ giúp giác ngộ.
2214. KINH LỬA CHÁY (ĀDITTAPARIYĀYA SUTTA) — SN 35.28
14. ĀDITTAPARIYĀYA SUTTA — SN 35.28
Nidāna — Ādittaṃ
(L) Evaṃ me sutaṃ. Ekaṃ samayaṃ bhagavā gayāyaṃ viharati gayāsīse saddhiṃ bhikkhusahassena. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
Sabbaṃ bhikkhave ādittaṃ. Kiñca bhikkhave sabbaṃ ādittaṃ?
Cakkhu — Rūpā
Cakkhu bhikkhave ādittaṃ, rūpā ādittā, cakkhuviññāṇaṃ ādittaṃ, cakkhusamphasso āditto, yampidaṃ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi ādittaṃ.
Kena ādittaṃ? Rāgagginā dosagginā mohagginā ādittaṃ, jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi ādittanti vadāmi.
Sota — Ghāna — Jivhā — Kāya
Sotaṃ ādittaṃ, saddā ādittā, sotaviññāṇaṃ ādittaṃ, sotasamphasso āditto, yampidaṃ sotasamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi ādittaṃ. Kena ādittaṃ? Rāgagginā dosagginā mohagginā ādittaṃ, jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi ādittanti vadāmi.
Ghānaṃ ādittaṃ, gandhā ādittā, ghānaviññāṇaṃ ādittaṃ, ghānasamphasso āditto, yampidaṃ ghānasamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi ādittaṃ. Kena ādittaṃ?
Rāgagginā dosagginā mohagginā ādittaṃ, jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi ādittanti vadāmi.
14. KINH LỬA CHÁY (ĀDITTAPARIYĀYA SUTTA) — SN 35.28
Theo bản nguồn, đây là bài pháp Đức Phật giảng tại Gayāsīsa cho một ngàn vị Tỳ-khưu vốn là các đạo sĩ thờ lửa. Một số truyền thống tụng kinh trong lễ tang hoặc khóa tu. Trong sách nguồn bài này mang số mục 14; bản dịch nối tiếp dùng số liên tục để tránh trùng với mục trước. Những lần lặp ở phần ly tham được lược trong tài liệu nguồn, không phải bản tụng nguyên văn trọn vẹn.
Duyên khởi và lời tuyên bố
Tôi được nghe như vầy: Một thời Đức Thế Tôn trú tại Gayā, trên đỉnh Gayāsīsa, cùng với một ngàn vị Tỳ-khưu. Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các vị Tỳ-khưu mà dạy: “Này các Tỳ-khưu, tất cả đang bốc cháy. Và này các Tỳ-khưu, tất cả đang bốc cháy ấy là gì?”
Mắt và các pháp liên hệ
Này các Tỳ-khưu, mắt đang bốc cháy, sắc đang bốc cháy, nhãn thức đang bốc cháy, nhãn xúc đang bốc cháy; bất cứ cảm thọ nào phát sanh do nhãn xúc làm duyên, dầu lạc, khổ hay không khổ không lạc, cảm thọ ấy cũng đang bốc cháy. Bốc cháy bởi gì? Bởi lửa tham, lửa sân, lửa si; bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu và não. Ta tuyên bố như vậy.
Tai, mũi, lưỡi, thân
Tai đang bốc cháy, các âm thanh đang bốc cháy, nhĩ thức, nhĩ xúc cùng các cảm thọ do nhĩ xúc làm duyên cũng đang bốc cháy. Bốc cháy bởi lửa tham, sân, si và bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Mũi đang bốc cháy, các mùi hương đang bốc cháy, tỷ thức, tỷ xúc cùng các cảm thọ do tỷ xúc làm duyên cũng đang bốc cháy; bốc cháy bởi lửa tham, sân, si và những khổ não của sanh tử.
23Ý và các pháp liên hệ
Jivhā ādittā, rasā ādittā, jivhāviññāṇaṃ ādittaṃ, jivhāsamphasso āditto, yampidaṃ jivhāsamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi ādittaṃ. Kena ādittaṃ? Rāgagginā dosagginā mohagginā ādittaṃ, jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi ādittanti vadāmi.
Kāyo āditto, phoṭṭhabbā ādittā, kāyaviññāṇaṃ ādittaṃ, kāyasamphasso āditto, yampidaṃ kāyasamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi ādittaṃ. Kena ādittaṃ?
Rāgagginā dosagginā mohagginā ādittaṃ, jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi ādittanti vadāmi.
Mano — Dhammā
Mano āditto, dhammā ādittā, manoviññāṇaṃ ādittaṃ, manosamphasso āditto, yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tampi ādittaṃ. Kena ādittaṃ?
Rāgagginā dosagginā mohagginā ādittaṃ, jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi ādittanti vadāmi.
Nhàm chán, ly tham, giải thoát
Evaṃ passaṃ bhikkhave sutavā ariyasāvako, cakkhusmimpi nibbindati, rūpesupi nibbindati, cakkhuviññāṇepi nibbindati, cakkhusamphassepi nibbindati, yampidaṃ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā, tasmimpi nibbindati.
Nibbindaṃ virajjati, virāgā vimuccati, vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti.
Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyāti pajānātīti.
Idamavoca bhagavā. Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṃ abhinanduṃ.
Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṃ bhaññamāne, tassa bhikkhusahassassa anupādāya āsavehi cittāni vimucciṃsūti.
Lưỡi đang bốc cháy, các vị đang bốc cháy, thiệt thức, thiệt xúc cùng các cảm thọ do thiệt xúc làm duyên cũng đang bốc cháy; bốc cháy bởi lửa tham, sân, si và những khổ não của sanh tử.
Thân đang bốc cháy, các xúc chạm đang bốc cháy, thân thức, thân xúc cùng các cảm thọ do thân xúc làm duyên cũng đang bốc cháy; bốc cháy bởi lửa tham, sân, si và những khổ não của sanh tử.
Ý và các pháp liên hệ
Ý đang bốc cháy, các pháp trần đang bốc cháy, ý thức, ý xúc cùng những cảm thọ do ý xúc làm duyên cũng đang bốc cháy. Bốc cháy bởi lửa tham, sân, si; bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta tuyên bố như vậy.
Nhàm chán, ly tham, giải thoát
Thấy như vậy, này các Tỳ-khưu, vị Thánh đệ tử có nghe học sanh tâm nhàm chán đối với mắt, sắc, nhãn thức, nhãn xúc cùng mọi cảm thọ phát sanh do nhãn xúc làm duyên.
Sách nguồn chỉ dẫn lặp lại cùng nội dung cho tai, mũi, lưỡi, thân và ý, nhưng không chép toàn bộ các lần lặp bằng Pāli.
Do nhàm chán, vị ấy ly tham; do ly tham, vị ấy giải thoát. Khi đã giải thoát, vị ấy biết: “Đã giải thoát.” Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái hiện hữu này nữa.”
Đức Thế Tôn đã thuyết giảng như vậy. Các vị Tỳ-khưu hoan hỷ, tín thọ lời Ngài. Trong khi lời dạy ấy được tuyên thuyết, tâm của một ngàn vị Tỳ-khưu được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
2415. CÁC BÀI KỆ HỘ TRÌ TỔNG HỢP (PAKIṆṆAKA PARITTA)
15. CÁC BÀI KỆ HỘ TRÌ TỔNG HỢP (PAKIṆṆAKA PARITTA)
Sabbasattānaṃ Sukhaṃ
Dukkhappattā ca niddukkhā, bhayappattā ca nibbhayā,
Sokappattā ca nissokā, hontu sabbepi pāṇino.
Ettāvatā ca amhehi, sambhataṃ puññasampadaṃ,
Sabbe devānumodantu, sabbasampattisiddhiyā.
Dānaṃ dadantu saddhāya, sīlaṃ rakkhantu sabbadā,
Bhāvanābhiratā hontu, gacchantu devatā gatā.
Buddhānubhāva
Sabbe buddhā balappattā, paccekānañca yaṃ balaṃ,
Arahantānañca tejena, rakkhaṃ bandhāmi sabbaso.
Sotthigāthā
Nakkhattayakkhabhūtānaṃ, pāpaggahanivāraṇā,
Saraṇagāthā
Natthi me saraṇaṃ aññaṃ, buddho me saraṇaṃ varaṃ,
Etena saccavajjena, hotu te jayamaṅgalaṃ.
Natthi me saraṇaṃ aññaṃ, dhammo me saraṇaṃ varaṃ,
Etena saccavajjena, hotu te jayamaṅgalaṃ.
15. CÁC BÀI KỆ HỘ TRÌ TỔNG HỢP (PAKIṆṆAKA PARITTA)
Những bài kệ truyền thống thường được tụng vào cuối thời kinh hộ trì, trước phần tùy hỷ công đức (anumodanā). Nghi thức sử dụng chỉ, nước hộ trì tùy phong tục tự viện; không nên hiểu là quy định phổ quát trong Luật tạng.
Nguyện cho mọi hữu tình
Nguyện cho tất cả chúng sanh đang chịu khổ được thoát khổ; đang sợ hãi được thoát sợ hãi; đang sầu muộn được dứt sầu muộn.
Với phước lành chúng con đã vun bồi đến đây, nguyện chư thiên đều tùy hỷ, để mọi sự tốt lành được thành tựu.
Nguyện mọi người bố thí với đức tin, luôn gìn giữ giới hạnh và hoan hỷ trong pháp hành thiền. Chư thiên đã đến, nay xin tùy duyên trở về trú xứ.
Nương uy lực các bậc Giác ngộ
Nương vào sức mạnh của chư Phật, của chư Phật Độc Giác và uy đức của các bậc A-la-hán, tôi nguyện thiết lập sự hộ trì khắp các phương.
Kệ cầu ngăn các bất tường
Parittassānubhāvena, hantvā tesaṃ upaddave. (ba lần)
Do năng lực của lời kinh hộ trì này, nguyện những tai họa được gán cho tinh tú, dạ-xoa, các loài phi nhân và hung tinh đều được ngăn trừ. (Tụng ba lần theo nghi thức trong sách nguồn.)
Tam quy như nơi nương tựa tối thượng
Tôi không có nơi nương tựa nào khác; Đức Phật là nơi nương tựa cao quý của tôi. Do lời chân thật này, nguyện sự thắng lợi và điều tốt lành đến với quý vị.
25Tam bảo vượt trên mọi châu báu
Natthi me saraṇaṃ aññaṃ, saṅgho me saraṇaṃ varaṃ,
Etena saccavajjena, hotu te jayamaṅgalaṃ.
Tam bảo vượt trên mọi châu báu
Yaṅkiñci ratanaṃ loke, vijjati vividhaṃ puthu,
Ratanaṃ buddhasamaṃ natthi, tasmā sotthī bhavantu te.
Yaṅkiñci ratanaṃ loke, vijjati vividhaṃ puthu,
Ratanaṃ dhammasamaṃ natthi, tasmā sotthī bhavantu te.
Yaṅkiñci ratanaṃ loke, vijjati vividhaṃ puthu,
Ratanaṃ saṅghasamaṃ natthi, tasmā sotthī bhavantu te.
Tam bảo như dược liệu thù thắng
Sakkatvā buddharatanaṃ, osathaṃ uttamaṃ varaṃ,
Hitaṃ devamanussānaṃ, buddhatejena sotthinā,
Nassantupaddavā sabbe, dukkhā vūpasamentu te.
Sakkatvā dhammaratanaṃ, osathaṃ uttamaṃ varaṃ,
Pariḷāhūpasamanaṃ, dhammatejena sotthinā,
Nassantupaddavā sabbe, bhayā vūpasamentu te.
Sakkatvā saṅgharatanaṃ, osathaṃ uttamaṃ varaṃ,
Āhuneyyaṃ pāhuneyyaṃ, saṅghatejena sotthinā,
Nassantupaddavā sabbe, rogā vūpasamentu te.
Tôi không có nơi nương tựa nào khác; Chánh pháp là nơi nương tựa cao quý của tôi. Do lời chân thật này, nguyện sự thắng lợi và điều tốt lành đến với quý vị.
Tôi không có nơi nương tựa nào khác; Tăng-già là nơi nương tựa cao quý của tôi. Do lời chân thật này, nguyện sự thắng lợi và điều tốt lành đến với quý vị.
Tam bảo vượt trên mọi châu báu
Dầu trong thế gian có vô số châu báu quý giá, không châu báu nào sánh được với Phật bảo; bởi vậy nguyện quý vị được an lành.
Dầu trong thế gian có vô số châu báu quý giá, không châu báu nào sánh được với Pháp bảo; bởi vậy nguyện quý vị được an lành.
Dầu trong thế gian có vô số châu báu quý giá, không châu báu nào sánh được với Tăng bảo; bởi vậy nguyện quý vị được an lành.
Tam bảo như dược liệu thù thắng
Đảnh lễ Phật bảo là dược liệu tối thượng, đem lợi ích cho chư thiên và nhân loại. Nương uy đức Phật bảo, nguyện mọi tai ách tiêu tan, mọi khổ đau được lắng dịu.
Đảnh lễ Pháp bảo là dược liệu tối thượng, làm nguội những cơn nóng bức phiền não. Nương uy đức Pháp bảo, nguyện mọi tai ách tiêu tan, mọi nỗi sợ được lắng dịu.
Đảnh lễ Tăng bảo là dược liệu tối thượng, đáng được cúng dường và tiếp đón. Nương uy đức Tăng bảo, nguyện mọi tai ách tiêu tan, mọi bệnh khổ được lắng dịu.
Theo trình tự sách nguồn, sau các bài kệ trên có thể tiếp tục bài chúc phúc “Bhavatu sabbamaṅgalaṃ” và phần tùy hỷ công đức; hai phần này đã có ở các mục liên hệ, không lặp lại tại đây.
2616. KINH VÍ DỤ NÚI ĐÁ (PABBATŪPAMA SUTTA) — SN 3.25, BẢN TRÍCH TỤNG
16. PABBATŪPAMA SUTTA — SN 3.25
Rājā Pasenadi
(L) Sāvatthinidānaṃ. Atha kho rājā pasenadi kosalo divā divassa yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho rājānaṃ pasenadiṃ kosalaṃ bhagavā etadavoca: Handa kuto nu tvaṃ mahārāja āgacchasi divā divassāti?
Cattāro Pabbatā
Atha dutiyo puriso āgaccheyya pacchimāya disāya … Atha tatiyo puriso āgaccheyya uttarāya disāya … Atha catuttho puriso āgaccheyya dakkhiṇāya disāya saddhāyiko paccayiko. So taṃ upasaṅkamitvā evaṃ vadeyya:
Yagghe mahārāja jāneyyāsi, ahaṃ āgacchāmi dakkhiṇāya disāya, tatthaddasaṃ mahantaṃ pabbataṃ abbhasamaṃ sabbe pāṇe nippothento āgacchati. Yaṃ te mahārāja karaṇīyaṃ taṃ karohīti.
Evarūpe te mahārāja mahati mahabbhaye samuppanne, dāruṇe manussavināse, dullabhe manussatte, kimassa karaṇīyanti?
Evarūpe me bhante mahati mahabbhaye samuppanne, dāruṇe manussavināse, dullabhe manussatte, kimassa karaṇīyaṃ, aññatra dhammacariyāya aññatra samacariyāya aññatra kusalakiriyāya aññatra puññakiriyāyāti?
Già và chết đang áp đến
Ārocemi kho te mahārāja, paṭivedemi kho te mahārāja: adhivattati kho taṃ mahārāja jarāmaraṇaṃ. Adhivattamāne ce te mahārāja jarāmaraṇe kimassa karaṇīyanti?
Adhivattamāne ca me bhante jarāmaraṇe kimassa karaṇīyaṃ, aññatra dhammacariyāya aññatra samacariyāya aññatra kusalakiriyāya aññatra puññakiriyāya?
Yāni tāni bhante rañño khattiyānaṃ muddhāvasittānaṃ … hatthiyuddhāni bhavanti, tesampi bhante hatthiyuddhānaṃ natthi gati natthi visayo adhivattamāne jarāmaraṇe.
16. KINH VÍ DỤ NÚI ĐÁ (PABBATŪPAMA SUTTA) — SN 3.25, BẢN TRÍCH TỤNG
Bản nguồn trình bày lời đối thoại giữa Đức Thế Tôn và vua Pasenadi cùng các kệ kết, có lược những phần lặp khi bốn người đưa tin đến từ bốn phương. Bài kinh được đọc hoặc tụng trong các dịp quán niệm già chết, lễ tưởng niệm hay cầu phúc thọ cho bậc trưởng thượng tùy phong tục.
Vua Pasenadi đến yết kiến
Tại Sāvatthī, vua Pasenadi nước Kosala đến yết kiến Đức Thế Tôn giữa ban ngày, đảnh lễ rồi ngồi sang một bên. Đức Thế Tôn hỏi nhà vua từ đâu đến vào lúc giữa trưa. Nhà vua đáp rằng mình bận những công việc cai trị mà các vị quốc vương đã được quán đảnh thường phải lo liệu.
Bốn ngọn núi từ bốn phương
Bốn ngọn núi
Đức Thế Tôn hỏi nhà vua: “Nếu có một người đáng tin từ phương Đông đến báo rằng một ngọn núi lớn cao tận mây đang tiến tới, nghiền nát mọi sinh mạng trên đường đi, và rồi có các sứ giả từ Tây, Bắc, Nam lần lượt báo tin như vậy, nhà vua sẽ làm gì?”
Bản Pāli trong nguồn dùng dấu ba chấm để biểu thị phần lời báo được lặp cho những người đưa tin từ ba phương còn lại. Đây là bản trích, không đủ nguyên văn để tụng trọn bài kinh.
Nếu tai họa to lớn và sự hủy diệt sinh mạng khủng khiếp như vậy xảy ra, trong khi được làm người là điều khó có, thì việc gì đáng làm nhất?
Bạch Thế Tôn, giữa đại hiểm họa như thế, còn có việc gì nên làm ngoài sống đúng Chánh pháp, sống ngay thẳng, thực hiện các thiện nghiệp và tạo lập phước lành?
27Già và chết đang áp đến
Yāni tāni bhante … assayuddhāni bhavanti … rathayuddhāni bhavanti … pattiyuddhāni bhavanti, tesampi bhante pattiyuddhānaṃ natthi gati natthi visayo adhivattamāne jarāmaraṇe.
Santi kho pana bhante imasmiṃ rājakule mantino mahāmattā, ye pahonti āgate paccatthike mantehi bhedayituṃ. Tesampi bhante mantayuddhānaṃ natthi gati natthi visayo adhivattamāne jarāmaraṇe.
Saṃvijjati kho pana bhante imasmiṃ rājakule pahūtaṃ hiraññasuvaṇṇaṃ bhūmigatañceva vehāsaṭṭhañca, yena mayaṃ pahoma āgate paccatthike dhanena upalāpetuṃ. Tesampi bhante dhanayuddhānaṃ natthi gati natthi visayo adhivattamāne jarāmaraṇe.
Adhivattamāne ca me bhante jarāmaraṇe kimassa karaṇīyaṃ, aññatra dhammacariyāya aññatra samacariyāya aññatra kusalakiriyāya aññatra puññakiriyāyāti?
Đức Phật xác nhận
Evametaṃ mahārāja, evametaṃ mahārāja. Adhivattamāne kho mahārāja jarāmaraṇe kimassa karaṇīyaṃ, aññatra dhammacariyāya aññatra samacariyāya aññatra kusalakiriyāya aññatra puññakiriyāyāti.
Các bài kệ kết
Idamavoca bhagavā. Idaṃ vatvāna sugato athāparaṃ etadavoca satthā:
Yathāpi selā vipulā, nabhaṃ āhacca pabbatā,
Samantā anupariyeyyuṃ, nippothentā catuddisā.
Evaṃ jarā ca maccu ca, adhivattanti pāṇino,
Khattiye brāhmaṇe vesse, sudde caṇḍālapukkuse,
Na kiñci parivajjeti, sabbamevābhimaddati.
Na tattha hatthīnaṃ bhūmi, na rathānaṃ na pattiyā,
Na cāpi mantayuddhena, sakkā jetuṃ dhanena vā.
Tasmā hi paṇḍito poso, sampassaṃ atthamattano,
Buddhe dhamme ca saṅghe ca, dhīro saddhaṃ nivesaye.
Yo dhammacārī kāyena, vācāya uda cetasā,
Idheva naṃ pasaṃsanti, pecca sagge pamodati.
Già và chết đang áp đến
Này Đại vương, Ta báo cho Đại vương biết: già và chết đang tiến đến gần Đại vương. Khi già và chết đang tiến đến, Đại vương sẽ làm gì?
Bạch Thế Tôn, khi già và chết đang tiến đến, còn có việc gì nên làm ngoài sống đúng Chánh pháp, sống ngay thẳng, làm thiện và tạo phước? Những trận chiến bằng voi, ngựa, chiến xa, bộ binh, những mưu kế của đại thần hay vàng bạc của cải đều không thể đánh bại già chết.
Đức Phật xác nhận
Đúng vậy, này Đại vương, đúng vậy. Khi già và chết đang tiến đến, còn có việc gì nên làm ngoài sống đúng Chánh pháp, sống ngay thẳng, làm thiện và tạo phước?
Các bài kệ kết
Đức Thế Tôn đã dạy như vậy, rồi bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư tiếp tục nói kệ:
“Ví như những ngọn núi đá lớn cao chạm trời, từ mọi hướng cùng tiến đến, nghiền nát khắp bốn phương.”
“Cũng vậy, già và chết áp đến mọi hữu tình: bậc vua chúa, Bà-la-môn, thương nhân, người lao động, người bị xem là hạ tiện. Không một ai được tránh khỏi; già chết nghiền nát tất cả.”
“Ở đó, binh voi, chiến xa hay bộ binh đều không thể chống đỡ; không mưu lược hay tiền của nào có thể thắng được.”
“Vì thế người có trí, thấy rõ lợi ích cho chính mình, hãy đặt niềm tin vững chắc nơi Phật, Pháp và Tăng.”
“Người sống đúng Chánh pháp bằng thân, khẩu và ý được tán thán ngay trong đời này, và sau khi mạng chung được hoan hỷ trong cảnh giới an vui.”
2817. KINH MỘT ĐÊM HIỀN THIỆN (BHADDEKARATTA SUTTA) — MN 131, KỆ TRÍCH
17. BHADDEKARATTA SUTTA — MN 131
(L) Evaṃ me sutaṃ. Ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
Bhaddekarattassa vo bhikkhave uddesañca vibhaṅgañca desessāmi. Taṃ suṇātha, sādhukaṃ manasi karotha, bhāsissāmīti.
Atītaṃ nānvāgameyya, nappaṭikaṅkhe anāgataṃ,
Yadatītaṃ pahīnaṃ taṃ, appattañca anāgataṃ.
Paccuppannañca yo dhammaṃ, tattha tattha vipassati,
Asaṃhīraṃ asaṃkuppaṃ, taṃ vidvā manubrūhaye.
Ajjeva kiccamātappaṃ, ko jaññā maraṇaṃ suve,
Na hi no saṅgaraṃ tena, mahāsenena maccunā.
Evaṃ vihāriṃ ātāpiṃ, ahorattamatanditaṃ,
Taṃ ve bhaddekarattoti, santo ācikkhate muni.
17. KINH MỘT ĐÊM HIỀN THIỆN (BHADDEKARATTA SUTTA) — MN 131, KỆ TRÍCH
Bản nguồn chỉ chép lời dẫn và những kệ thường tụng, không in toàn bộ phần phân tích quá khứ, hiện tại và tương lai trong MN 131. Không nên gọi đây là bản kinh đầy đủ.
Tôi được nghe như vầy: Một thời Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, nơi tinh xá Jetavana của ông Anāthapiṇḍika. Ngài gọi các vị Tỳ-khưu và nói: “Này các Tỳ-khưu, Ta sẽ thuyết giảng phần tóm lược và phần giải thích về người có một đêm hiền thiện. Hãy lắng nghe, khéo tác ý; Ta sẽ nói.”
Chớ tìm về quá khứ, chớ mong cầu tương lai. Quá khứ đã qua rồi; tương lai vẫn chưa đến.
Đối với những pháp hiện tại, hãy quán sát bằng tuệ giác ngay tại đó, không dao động, không bị lay chuyển; người trí hãy tinh cần phát triển sự quán sát ấy.
Hãy tinh cần làm việc cần làm ngay hôm nay; ai biết được ngày mai cái chết có thể đến? Không ai có thể giao ước với tử thần cùng đại quân của nó.
Người sống như vậy, nhiệt tâm, không biếng nhác suốt ngày đêm, được bậc Hiền trí gọi là người có một đêm hiền thiện.
2918. KINH TẠI GIẢNG ĐƯỜNG TRANH LUẬN (KUTŪHALASĀLĀ SUTTA) — SN 44.9, ĐOẠN TRÍCH
18. KUTŪHALASĀLĀ SUTTA — SN 44.9
Aggī ca upādānaṃ
Saupādānassa khvāhaṃ vaccha upapattiṃ paññāpemi, no anupādānassa.
Seyyathāpi vaccha aggi saupādāno jalati, no anupādāno; evamevāhaṃ vaccha saupādānassa upapattiṃ paññāpemi, no anupādānassa.
Taṇhūpādānaṃ
Yasmiṃ kho vaccha samaye imañca kāyaṃ nikkhipati, satto ca aññataraṃ kāyaṃ anupapanno hoti, tamahaṃ taṇhūpādānaṃ vadāmi. Taṇhā hissa vaccha tasmiṃ samaye upādānaṃ hotīti.
18. KINH TẠI GIẢNG ĐƯỜNG TRANH LUẬN (KUTŪHALASĀLĀ SUTTA) — SN 44.9, ĐOẠN TRÍCH
Cuộc đối thoại giữa du sĩ Vacchagotta và Đức Phật về sự tiếp nối tái sanh, sử dụng ví dụ ngọn lửa và nhiên liệu. Đây là đoạn văn xuôi để đọc học hoặc giảng giải, không phải một bài kệ tụng; bản nguồn chỉ dẫn vài đoạn trọng tâm.
Ngọn lửa nương nhiên liệu
Này Vaccha, Ta nói sự tái sanh đối với người còn chấp thủ làm nhiên liệu, chứ không nói như vậy đối với người không còn chấp thủ. Cũng như ngọn lửa cháy nhờ có nhiên liệu, không cháy nếu không có nhiên liệu; cũng vậy,
Ta nói đến sự tái sanh của người còn nhiên liệu chấp thủ.
Khi ngọn lửa bị gió mang đi
Theo phần tóm tắt tiếng Anh của sách nguồn, Vacchagotta hỏi khi một ngọn lửa bị gió thổi đưa đi xa thì lấy gì làm nhiên liệu. Đức Phật đáp: chính gió là nhiên liệu cho ngọn lửa trong trường hợp ấy. Bản nguồn không in Pāli của toàn bộ lời đối thoại này.
Này Vaccha, khi một hữu tình bỏ thân này mà chưa thọ nhận một thân khác,
Ta nói ái chính là nhiên liệu của hữu tình ấy. Trong lúc đó, ái là nhiên liệu.
3019. RẢI TÂM TỪ (METTĀ PHARAṆA) — BẢN TRÍCH TỤNG
19. METTĀ PHARAṆĀ
Attānaṃ ārabbha mettā
Ahaṃ avero homi, abyāpajjho homi, anīgho homi, sukhī attānaṃ pariharāmi.
Mātāpitaro ca ñātimittā ca
Mama mātāpitu ācariya ca ñātimittā ca, sabrahmacārino ca, averā hontu, abyāpajjhā hontu, anīghā hontu, sukhī attānaṃ pariharantu.
Ārāme yogino ca devatā ca
Imasmiṃ ārāme sabbe yogino averā hontu … Imasmiṃ ārāme sabbe ārakkha-devatā averā hontu …
Dvādasavidhā sattā
Sabbe sattā, sabbe pāṇā, sabbe bhūtā, sabbe puggalā, sabbe attabhāvapariyāpannā,
Sabbā itthiyo, sabbe purisā, sabbe ariyā, sabbe anariyā,
Sabbe devā, sabbe manussā, sabbe vinipātikā,
Averā hontu, abyāpajjhā hontu, anīghā hontu, sukhī attānaṃ pariharantu.
Dasadisāsu mettā
Puratthimāya disāya, pacchimāya disāya, uttarāya disāya, dakkhiṇāya disāya,
19. RẢI TÂM TỪ (METTĀ PHARAṆA) — BẢN TRÍCH TỤNG
Bài thực tập rải tâm từ thường được tụng trước giờ hành thiền, trong lễ cầu an hoặc khi thăm người bệnh. Bản nguồn lược nhiều đoạn lặp ở phần rải tâm từ đến mười phương; đây không phải bản chép đầy đủ mọi lần lặp.
Hướng tâm từ đến chính mình
Nguyện cho tôi không có oán thù, không có tâm sân hận, không bị não hại, được an lạc và tự chăm sóc bản thân trong an ổn.
Hướng tâm từ đến người thân và bạn đồng phạm hạnh
Nguyện cho cha mẹ tôi, các bậc thầy, thân quyến, bạn hữu và những người cùng sống đời phạm hạnh không có oán thù, không bị sân hận và não hại; nguyện tất cả được an lạc và tự chăm sóc bản thân trong an ổn.
Hướng tâm từ đến hành giả và chư thiên hộ trì trú xứ
Nguyện cho tất cả hành giả trong tu viện này và chư thiên hộ trì tại trú xứ này không có oán thù, không có sân hận và được an lạc. Dấu ba chấm trong bản Pāli của nguồn biểu thị những câu được lược.
Hướng tâm từ đến mười hai nhóm hữu tình
Nguyện cho tất cả chúng sanh, mọi loài có hơi thở, mọi sinh thể, mọi cá thể, mọi hữu tình hiện hữu trong thân này; tất cả nữ giới, nam giới, bậc Thánh, phàm nhân, chư thiên, nhân loại và các loài ở cảnh giới khổ đều không có oán thù, không bị sân hận và não hại; nguyện tất cả được an lạc và sống trong yên ổn.
31Rải tâm từ khắp mười phương
Puratthimāya anudisāya, pacchimāya anudisāya, uttarāya anudisāya, dakkhiṇāya anudisāya,
Heṭṭhimāya disāya, uparimāya disāya,
Sabbe sattā … sabbe vinipātikā, averā hontu, abyāpajjhā hontu, anīghā hontu, sukhī attānaṃ pariharantu.
Mettā, karuṇā, muditā, upekkhā
Sabbe sattā sabbadukkhā pamuccantu.
Sabbe sattā mā laddhasampattito vigacchantu.
Sabbe sattā kammassakā.
Sabbalokānukampā
Uddhaṃ yāva bhavaggā ca, adho yāva avīcito,
Samantā cakkavāḷesu, ye sattā pathavīcarā,
Abyāpajjhā niverā ca, niddukkhā ca nupaddavā.
Uddhaṃ yāva bhavaggā ca, adho yāva avīcito,
Samantā cakkavāḷesu, ye sattā udakecarā,
Abyāpajjhā niverā ca, niddukkhā ca nupaddavā.
Uddhaṃ yāva bhavaggā ca, adho yāva avīcito,
Samantā cakkavāḷesu, ye sattā ākāsecarā,
Abyāpajjhā niverā ca, niddukkhā ca nupaddavā.
Rải tâm từ khắp mười phương
Ở phương Đông, Tây, Bắc, Nam; ở các phương Đông Nam, Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nam; ở phía dưới và phía trên, nguyện tất cả hữu tình đều không có oán thù, không bị sân hận và não hại, được an lạc và sống yên ổn.
Trong một số nghi thức tụng đầy đủ, mười hai nhóm hữu tình được lần lượt đọc cho mỗi phương; sách nguồn chỉ ghi một bản tóm lược, không chép trọn tất cả lần lặp.
Từ, bi, hỷ và xả
Nguyện cho tất cả chúng sanh thoát khỏi mọi khổ đau.
Nguyện cho tất cả chúng sanh không phải xa lìa những điều tốt đẹp đã đạt được.
Tất cả chúng sanh là chủ nhân của nghiệp do mình tạo tác.
Lời nguyện hộ trì khắp các cảnh giới
Từ cõi hữu cao nhất cho đến địa ngục Avīci thấp nhất, trong tất cả thế giới hệ quanh đây, nguyện những hữu tình đi lại trên mặt đất không gặp hiểm nguy, không có oán thù và được thoát khổ.
Từ cõi hữu cao nhất cho đến địa ngục Avīci thấp nhất, trong tất cả thế giới hệ quanh đây, nguyện những hữu tình sống trong nước không gặp hiểm nguy, không có oán thù và được thoát khổ.
Từ cõi hữu cao nhất cho đến địa ngục Avīci thấp nhất, trong tất cả thế giới hệ quanh đây, nguyện những hữu tình di chuyển trong không trung không gặp hiểm nguy, không có oán thù và được thoát khổ.
3220. BẢNG TÓM LƯỢC 24 DUYÊN HỆ (PAṬṬHĀNA MĀTIKĀ)
20. PAṬṬHĀNA MĀTIKĀ — CATUVĪSATI PACCAYĀ
Hetupaccayo, ārammaṇapaccayo, adhipatipaccayo, anantarapaccayo, samanantarapaccayo, sahajātapaccayo, aññamaññapaccayo, nissayapaccayo, upanissayapaccayo, purejātapaccayo, pacchājātapaccayo, āsevanapaccayo, kammapaccayo, vipākapaccayo, āhārapaccayo, indriyapaccayo, jhānapaccayo, maggapaccayo, sampayuttapaccayo, vippayuttapaccayo, atthipaccayo, natthipaccayo, vigatapaccayo, avigatapaccayoti.
20. BẢNG TÓM LƯỢC 24 DUYÊN HỆ (PAṬṬHĀNA MĀTIKĀ)
Đây là phần liệt kê hai mươi bốn duyên của Paṭṭhāna, bộ thứ bảy thuộc Vi Diệu Pháp tạng. Một số cộng đồng tụng đoạn này trong lễ tang, đêm canh linh cữu hoặc khi tưởng niệm; mục đích là nhắc nhớ sự nương nhau mà sanh khởi của các pháp. Không đồng nhất bảng duyên hệ với toàn văn Paṭṭhāna.
(L) Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa. (ba lần)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác (ba lần).
Hai mươi bốn duyên theo thứ tự: nhân duyên; cảnh duyên; tăng thượng duyên; vô gián duyên; đẳng vô gián duyên; câu sanh duyên; hỗ tương duyên; y chỉ duyên; cận y duyên; tiền sanh duyên; hậu sanh duyên; trùng dụng duyên; nghiệp duyên; dị thục duyên; thực duyên; quyền duyên; thiền duyên; đạo duyên; tương ưng duyên; bất tương ưng duyên; hiện hữu duyên; vô hữu duyên; ly khứ duyên; và bất ly duyên.
Kệ kết: Ime catuvīsati paccayā.
Đây là hai mươi bốn duyên.
Lưu ý: danh sách trên là bản diễn nghĩa giúp học và tụng, không thay thế giải thích học thuật của bộ Paṭṭhāna.
3321. NIỆM SỰ CHẾT (MARAṆASSATI)
21. MARAṆASSATI
Adhuvaṃ me jīvitaṃ, dhuvaṃ me maraṇaṃ.
Avassaṃ mayā maritabbameva.
Maraṇapariyosānaṃ me jīvitaṃ.
Jīvitaṃ me aniyataṃ, maraṇaṃ me niyataṃ.
Maraṇānussati Gāthā
Aciraṃ vatayaṃ kāyo, pathaviṃ adhisessati,
Chuḍḍho apetaviññāṇo, niratthaṃva kaliṅgaraṃ.
Ajjeva kiccamātappaṃ, ko jaññā maraṇaṃ suve,
Na hi no saṅgaraṃ tena, mahāsenena maccunā.
Sabbe sattā maranti ca, mariṃsu ca marissare,
Tathevāhaṃ marissāmi, natthi me ettha saṃsayo.
21. NIỆM SỰ CHẾT (MARAṆASSATI)
Có thể tụng để tự sách tấn trong đời sống thường nhật, trong lễ tưởng niệm hoặc khi hướng dẫn thiền quán vô thường. Nên đọc với sự tỉnh giác và từ tâm, không dùng lời tụng để gây sợ hãi cho người đang bệnh nặng.
Đời sống của tôi không bền chắc; cái chết của tôi là điều chắc chắn. Tôi nhất định phải chết; đời sống này sẽ kết thúc bằng cái chết.
Maraṇaṃ maraṇaṃ. (ba lần)
Mạng sống của tôi không nhất định; sự chết là điều nhất định. Chết, chết (tụng ba lần theo hướng dẫn trong sách nguồn).
Các câu kệ quán niệm
Chẳng bao lâu, thân này sẽ nằm trên mặt đất, bị bỏ lại, không còn thức biết, như khúc gỗ vô dụng.
Hãy nhiệt tâm thực hiện việc cần làm ngay hôm nay; ai biết được ngày mai cái chết sẽ đến? Không ai có thể giao ước với tử thần cùng đoàn quân hùng mạnh của nó.
Tất cả chúng sanh đều phải chết, đã chết và sẽ chết; cũng vậy, tôi sẽ chết. Về điều ấy, tôi không có nghi ngờ.
Sau phần tụng có thể lặng yên quán niệm, rồi đọc Năm Điều Quán Niệm Hằng Ngày trong Phần Một.
3422. KỆ ĐẠI CÁT TƯỜNG (SUMAṄGALA GĀTHĀ)
22. SUMAṄGALA GĀTHĀ
Hotu sabbaṃ sumaṅgalaṃ, rakkhantu sabbadevatā,
Sabbabuddhānubhāvena, sadā sotthī bhavantu te.
Hotu sabbaṃ sumaṅgalaṃ, rakkhantu sabbadevatā,
Sabbadhammānubhāvena, sadā sotthī bhavantu te.
Hotu sabbaṃ sumaṅgalaṃ, rakkhantu sabbadevatā,
Sabbasaṅghānubhāvena, sadā sotthī bhavantu te.
22. KỆ ĐẠI CÁT TƯỜNG (SUMAṄGALA GĀTHĀ)
Kệ chúc lành thường được tụng cuối thời kinh hộ trì, trước phần tùy hỷ công đức; cách đọc có thể khác nhau giữa các truyền thống.
Nguyện mọi điều cát tường viên mãn; nguyện chư thiên hộ trì quý vị. Nhờ uy lực của hết thảy chư Phật, nguyện quý vị luôn được an lành.
Nguyện mọi điều cát tường viên mãn; nguyện chư thiên hộ trì quý vị. Nhờ uy lực của Chánh pháp, nguyện quý vị luôn được an lành.
Nguyện mọi điều cát tường viên mãn; nguyện chư thiên hộ trì quý vị. Nhờ uy lực của Tăng-già, nguyện quý vị luôn được an lành.
Một số truyền thống sử dụng công thức Bhavatu sabbamaṅgalaṃ thay cho Hotu sabbaṃ sumaṅgalaṃ. Đây là dị bản tụng niệm; việc sử dụng nên theo pháp thống của tự viện.
35Mời chư thiên tùy hỷ
23. DEVĀNUMODANĀ / PUÑÑĀNUMODANĀ
Devānumodanā
Ettāvatā ca amhehi, sambhataṃ puññasampadaṃ,
Sabbe devānumodantu, sabbasampattisiddhiyā.
Sāsanarakkhā Gāthā
Ākāsaṭṭhā ca bhummaṭṭhā, devā nāgā mahiddhikā,
Puññaṃ taṃ anumoditvā, ciraṃ rakkhantu sāsanaṃ.
Ākāsaṭṭhā ca bhummaṭṭhā, devā nāgā mahiddhikā,
Puññaṃ taṃ anumoditvā, ciraṃ rakkhantu desanaṃ.
Ākāsaṭṭhā ca bhummaṭṭhā, devā nāgā mahiddhikā,
Puññaṃ taṃ anumoditvā, ciraṃ rakkhantu maṃ paraṃ.
24. KỆ THỈNH CHƯ THIÊN TÙY HỶ VÀ HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC (DEVĀNUMODANĀ / PUÑÑĀNUMODANĀ)
Thường được tụng sau lễ tạo phước, nhằm mời chư thiên và các loài hữu tình tùy hỷ với thiện nghiệp đã làm; không xem việc tụng thay thế cho giới hạnh và thiện nghiệp thực sự.
Mời chư thiên tùy hỷ
Đối với công đức lành mà chúng con đã tích lũy đến đây, nguyện tất cả chư thiên đều tùy hỷ, để những điều an lành và thuận lợi được thành tựu.
Nguyện hộ trì Phật giáo và giáo pháp
Nguyện chư thiên và các loài nāga có đại thần lực ở trên hư không và trên mặt đất, sau khi tùy hỷ phước lành này, hãy hộ trì Giáo pháp của Đức Phật được trường tồn.
Nguyện chư thiên và các loài nāga có đại thần lực ở trên hư không và trên mặt đất, sau khi tùy hỷ phước lành này, hãy hộ trì lời Chánh pháp được trường tồn.
Nguyện chư thiên và các loài nāga có đại thần lực ở trên hư không và trên mặt đất, sau khi tùy hỷ phước lành này, hãy hộ trì tôi và mọi người trong thời gian lâu dài.
Đại chúng đáp: Sādhu, sādhu, sādhu — Lành thay, lành thay, lành thay.
3624. KỆ HỘ TRÌ ĀṬĀNĀṬIYA (ĀṬĀNĀṬIYA PARITTA GĀTHĀ) — TRÍCH
24. ĀṬĀNĀṬIYA PARITTA GĀTHĀ
Sikhissapi ca namatthu, sabbabhūtānukampino.
Koṇāgamanassa namatthu, brāhmaṇassa vusīmato,
Aṅgīrasassa namatthu, sakyaputtassa sirīmato,
Yo imaṃ dhammaṃ desesi, sabbadukkhāpanūdanaṃ.
Vipassissa ca namatthu, cakkhumantassa sirīmato,
Vessabhussa ca namatthu, nhātakassa tapassino,
Namatthu kakusandhassa, mārasenappamaddino.
Ye cāpi nibbutā loke, yathābhūtaṃ vipassisuṃ,
Te janā apisuṇātha, mahantā vītasāradā.
Hitaṃ devamanussānaṃ, yaṃ namassanti gotamaṃ,
Vijjācaraṇasampannaṃ, mahantaṃ vītasāradaṃ.
Mā te bhavatvantarāyo, sukhī dīghāyuko bhava.
Sabbītiyo vivajjantu, sabbarogo vinassatu,
24. KỆ HỘ TRÌ ĀṬĀNĀṬIYA (ĀṬĀNĀṬIYA PARITTA GĀTHĀ) — TRÍCH
Những câu kệ đảnh lễ bảy Đức Phật quá khứ và hiện tại nằm trong truyền thống hộ trì liên hệ DN 32. Mục này chỉ chứa một phần kệ tụng được chọn, không phải toàn văn Kinh Āṭānāṭiya.
Kính lễ Đức Phật Vipassī, bậc có tuệ nhãn và uy đức; kính lễ Đức Phật Sikhī, bậc thương tưởng tất cả chúng sanh.
Kính lễ Đức Phật Vessabhū, bậc thanh tịnh nhờ tinh cần; kính lễ Đức Phật Kakusandha, bậc đã hàng phục quân Ma.
Kassapassa ca namatthu, vippamuttassa sabbadhi.
Kính lễ Đức Phật Koṇāgamana, bậc Thánh Bà-la-môn viên mãn đời sống phạm hạnh; kính lễ Đức Phật Kassapa, bậc đã giải thoát khắp mọi phương diện.
Kính lễ Đức Phật Gotama, bậc quang minh thuộc dòng họ Sakya, người đã tuyên thuyết Chánh pháp làm tiêu trừ mọi khổ đau.
Những bậc đã tịch tịnh trong thế gian, thấy biết các pháp đúng như thật, không nói lời chia rẽ, là những bậc cao cả, đã vượt qua sợ hãi.
Các bậc ấy tôn kính Đức Phật Gotama, đấng đem lợi ích đến chư thiên và nhân loại, bậc minh hạnh túc, cao quý và không còn khiếp sợ.
Lời chúc phúc kết thúc
Nguyện mọi bất hạnh đều được ngăn trừ, mọi bệnh tật được tiêu tan; nguyện quý vị không gặp chướng nạn, được an vui và sống lâu.
CÁC BÀI KỆ TINH TẤN, THỈNH PHÁP, GIỚI LUẬT VÀ HỘ NIỆM
Bản tiếp nối Phần Ba. Trật tự nhóm bài được khôi phục từ nội dung Pāli và tiếng Anh trong sách nguồn; những đoạn bị xen trang được xếp lại theo từng bài. Các đoạn trích hoặc lược được nhận diện rõ, không xem là một bản tụng nghi lễ hoàn chỉnh.
3725. KINH KHỞI DẬY TINH TẤN — UṬṬHĀNA SUTTA (SN 2.10)
25. UṬṬHĀNA SUTTA (SN 2.10)
Uṭṭhahatha nisīdatha, ko attho supitena vo,
Āturānañhi kā niddā, sallaviddhāna ruppataṃ.
Uṭṭhahatha nisīdatha, daḷhaṃ sikkhatha santiyā,
Mā vo pamatte viññāya, maccurājā amohayittha vasānuge.
Yāya devā manussā ca, sitā tiṭṭhanti atthikā,
Tarathetaṃ visattikaṃ, khaṇo vo mā upaccagā,
Khaṇātītā hi socanti, nirayamhi samappitā.
Pamādo rajo pamādo, pamādānupatito rajo,
Appamādena vijjāya, abbahe sallamattanoti.
25. KINH KHỞI DẬY TINH TẤN — UṬṬHĀNA SUTTA (SN 2.10)
Bản tụng gồm bốn khổ kệ của Sn 2.10; lời sách nhắc người tu thức tỉnh, tinh cần, không để thời gian trôi qua trong phóng dật.
Hãy đứng dậy, hãy ngồi lên! Ngủ nghỉ như thế có ích lợi gì? Với người đang bị mũi tên đâm xuyên, đang đau khổ, làm sao còn có thể mê ngủ?
Hãy đứng dậy, hãy ngồi lên! Hãy kiên trì rèn luyện để đạt đến an tịnh. Đừng để Tử thần, nhận thấy các vị phóng dật, mê hoặc và khiến các vị rơi vào quyền lực của mình.
Hãy vượt qua ái trước — sự trói buộc mà chư thiên và loài người còn vướng mắc trong ước muốn. Chớ để thời khắc quý báu trôi qua; những ai để lỡ thời cơ sẽ buồn khổ khi rơi vào cảnh giới khổ.
Phóng dật là bụi bặm; bụi bặm phát sinh theo phóng dật. Bằng không phóng dật và trí tuệ, hãy nhổ mũi tên đang cắm nơi chính mình.
3826. KỆ THỈNH THUYẾT PHÁP — DHAMMADESANĀYĀCANA GĀTHĀ
26. DHAMMADESANĀYĀCANA GĀTHĀ
Brahmā ca lokādhipatī sahampatī,
Katañjalī andhivaraṃ ayācatha,
Santīdha sattāpparajakkhajātikā,
Desetu dhammaṃ anukampimaṃ pajaṃ.
26. KỆ THỈNH THUYẾT PHÁP — DHAMMADESANĀYĀCANA GĀTHĀ
Đại diện hàng Phật tử cung thỉnh vị Tỳ-khưu giảng pháp. Bài kệ nhắc đến lời cung thỉnh của Phạm thiên Sahampati đối với Đức Phật sau khi Ngài thành đạo.
Phạm thiên Sahampati, vị chủ thế gian, chắp tay cung thỉnh bậc Tối Thượng:
“Trong đời còn những chúng sanh ít bụi trần trong mắt. Kính xin Đức Thế Tôn vì lòng bi mẫn đối với quần sanh mà tuyên thuyết Chánh pháp.”
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa. (3 lần)
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác. (Ba lần.)
3927. PHÁT LỘ TỘI THEO LUẬT — ĀPATTI DESANĀ (CHỈ DÀNH CHO TỲ-KHƯU)
27. ĀPATTI DESANĀ — BHIKKHŪNAṂ
Navakassa āpattidesanā (therassa santike)
Vị nhỏ hạ: Ahaṃ bhante sambahulā nānāvatthukāyo āpattiyo āpanno, tā tumhamūle paṭidesemi.
Vị lớn hạ: Passasi āvuso?
Vị nhỏ hạ: Āma bhante passāmi.
27. PHÁT LỘ TỘI THEO LUẬT — ĀPATTI DESANĀ (CHỈ DÀNH CHO TỲ-KHƯU)
Đây là phần tham khảo về việc phát lộ các tội thuộc loại được giải quyết bằng sự thú nhận theo Luật, không phải nghi thức tụng công cộng. Khi thực hiện, chư Tăng cần theo đúng đối tượng, nội dung tội, trình tự và điều kiện áp dụng của Vinaya; những lời mẫu dưới đây chưa được chứng thực để thay cho nghi thức pháp lý.
Tỳ-khưu nhỏ hạ phát lộ với Tỳ-khưu lớn hạ
Bạch Đại đức, con đã phạm nhiều tội thuộc các sự việc khác nhau; nay con xin phát lộ những tội ấy trước Đại đức.
Này hiền giả, hiền giả có nhận thấy các lỗi ấy không?
Bạch Đại đức, con có nhận thấy.
Này hiền giả, từ nay hãy giữ gìn, ngăn ngừa.
Vị trẻ: Sādhu suṭṭhu bhante saṃvarissāmi. (Tụng ba lần; lần thứ hai và thứ ba mở đầu lần lượt bằng Dutiyampi … và Tatiyampi …)
40Tỳ-khưu lớn hạ phát lộ với Tỳ-khưu nhỏ hạ
Vị trưởng thượng: Āyatiṃ āvuso saṃvareyyāsi.
Therassa āpattidesanā (navakassa santike)
Vị lớn hạ: Ahaṃ āvuso sambahulā nānāvatthukāyo āpattiyo āpanno, tā tuyhamūle paṭidesemi.
Vị nhỏ hạ: Passatha bhante?
Vị lớn hạ: Āma āvuso passāmi.
Vị nhỏ hạ: Āyatiṃ bhante saṃvareyyātha.
Lành thay, bạch Đại đức. Con nguyện từ nay sẽ giữ gìn, ngăn ngừa. (Theo sách nguồn: lặp ba lần với cách mở đầu khác nhau.)
Tỳ-khưu lớn hạ phát lộ với Tỳ-khưu nhỏ hạ
Này hiền giả, tôi đã phạm nhiều tội thuộc các sự việc khác nhau; nay tôi xin phát lộ những tội ấy trước hiền giả.
Bạch Đại đức, Đại đức có nhận thấy các lỗi ấy không?
Này hiền giả, tôi có nhận thấy.
Bạch Đại đức, từ nay xin Đại đức hãy giữ gìn, ngăn ngừa.
Vị lớn hạ: Sādhu suṭṭhu āvuso saṃvarissāmi. (ba lần)
Lành thay, này hiền giả, tôi nguyện từ nay sẽ giữ gìn, ngăn ngừa. (Theo sách nguồn: ba lần.)
Giới hạn: những tội không thể giải quyết bằng phát lộ thông thường, đặc biệt Saṅghādisesa, cần áp dụng thủ tục Luật riêng với sự hướng dẫn của chư Tăng thông hiểu Vinaya. Không được dùng phần rút gọn này như công thức pháp lý đã thẩm định.
4128. THÁNH ĐẠO TÁM NGÀNH — ARIYA AṬṬHAṄGIKA MAGGA (SN 45.8)
28. ARIYA AṬṬHAṄGIKA MAGGA (SN 45.8)
(L) Ariyaṃ vo bhikkhave aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ desessāmi vibhajissāmi.
Taṃ suṇātha, sādhukaṃ manasi karotha, bhāsissāmīti.
Katamo ca bhikkhave ariyo aṭṭhaṅgiko maggo? Seyyathidaṃ: sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.
1. Sammādiṭṭhi
Katamā ca bhikkhave sammādiṭṭhi? Yaṃ kho bhikkhave dukkhe ñāṇaṃ, dukkhasamudaye ñāṇaṃ, dukkhanirodhe ñāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ. Ayaṃ vuccati bhikkhave sammādiṭṭhi.
2. Sammāsaṅkappa
Katamo ca bhikkhave sammāsaṅkappo? Yo kho bhikkhave nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo, avihiṃsāsaṅkappo. Ayaṃ vuccati bhikkhave sammāsaṅkappo.
3. Sammāvācā
Katamā ca bhikkhave sammāvācā? Yā kho bhikkhave musāvādā veramaṇī, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī. Ayaṃ vuccati bhikkhave sammāvācā.
28. THÁNH ĐẠO TÁM NGÀNH — ARIYA AṬṬHAṄGIKA MAGGA (SN 45.8)
Này các Tỳ-khưu, Như Lai sẽ giảng giải và phân tích Thánh đạo Tám ngành.
Hãy lắng nghe và khéo tác ý; Như Lai sẽ nói.
Và này các Tỳ-khưu, thế nào là Thánh đạo Tám ngành? Đó là Chánh kiến,
Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn,
Chánh niệm và Chánh định.
1. Chánh kiến (Sammādiṭṭhi)
Thế nào là Chánh kiến? Đó là trí biết về khổ, về nguyên nhân của khổ, về sự đoạn diệt khổ và về con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ. Đây được gọi là Chánh kiến.
2. Chánh tư duy (Sammāsaṅkappa)
Thế nào là Chánh tư duy? Đó là tư duy ly dục, tư duy không sân hận và tư duy không làm hại. Đây được gọi là Chánh tư duy.
3. Chánh ngữ (Sammāvācā)
Thế nào là Chánh ngữ? Đó là từ bỏ nói dối, nói chia rẽ, nói lời thô ác và nói lời phù phiếm. Đây được gọi là Chánh ngữ.
424. Chánh nghiệp (Sammākammanta)
4. Sammākammanta
Katamo ca bhikkhave sammākammanto? Yā kho bhikkhave pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, abrahmacariyā veramaṇī. Ayaṃ vuccati bhikkhave sammākammanto.
5. Sammāājīva
Katamo ca bhikkhave sammāājīvo? Idha bhikkhave ariyasāvako micchāājīvaṃ pahāya sammāājīvena jīvikaṃ kappeti. Ayaṃ vuccati bhikkhave sammāājīvo.
6. Sammāvāyāma
Katamo ca bhikkhave sammāvāyāmo? Idha bhikkhave bhikkhu anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati; uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati; anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati;
uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati. Ayaṃ vuccati bhikkhave sammāvāyāmo.
4. Chánh nghiệp (Sammākammanta)
Thế nào là Chánh nghiệp? Đó là từ bỏ sát sanh, lấy của không cho và hành vi không phạm hạnh. Đây được gọi là Chánh nghiệp trong ngữ cảnh bản kinh này.
5. Chánh mạng (Sammāājīva)
Thế nào là Chánh mạng? Ở đây, vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng và sinh sống bằng Chánh mạng. Đây được gọi là Chánh mạng.
6. Chánh tinh tấn (Sammāvāyāma)
Đối với các pháp bất thiện chưa sanh, vị Tỳ-khưu khởi lên ý muốn, nỗ lực, phát khởi tinh tấn, nâng đỡ tâm và chuyên cần để chúng không sanh khởi.
Đối với các pháp bất thiện đã sanh, vị ấy tinh cần để đoạn trừ chúng.
Đối với các pháp thiện chưa sanh, vị ấy tinh cần khiến chúng được sanh khởi.
Đối với các pháp thiện đã sanh, vị ấy tinh cần làm cho chúng được duy trì, không suy giảm, tăng trưởng, phát triển và viên mãn. Đây gọi là Chánh tinh tấn.
437. Chánh niệm (Sammāsati)
7. Sammāsati
Katamā ca bhikkhave sammāsati? Idha bhikkhave bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu vedanānupassī viharati … citte cittānupassī viharati … dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. Ayaṃ vuccati bhikkhave sammāsati.
8. Sammāsamādhi
Katamo ca bhikkhave sammāsamādhi? Idha bhikkhave bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
Vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti: upekkhako satimā sukhavihārīti, tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā, pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā, adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Ayaṃ vuccati bhikkhave sammāsamādhīti.
Ayaṃ vuccati bhikkhave ariyo aṭṭhaṅgiko maggoti.
7. Chánh niệm (Sammāsati)
Thế nào là Chánh niệm? Ở đây, vị Tỳ-khưu sống quán thân trên thân, quán thọ trên các cảm thọ, quán tâm trên tâm và quán pháp trên các pháp; nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Đây được gọi là Chánh niệm. (Bản Pāli của nguồn có dùng dấu lược các câu lặp.)
8. Chánh định (Sammāsamādhi)
Thế nào là Chánh định? Ở đây, vị Tỳ-khưu ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và an trú Sơ thiền, có tầm, có tứ, có hỷ lạc do ly dục sanh.
Do tầm và tứ lắng dịu, với nội tâm tịnh tín và nhất tâm, không tầm không tứ, vị ấy chứng và an trú Nhị thiền, có hỷ lạc do định sanh.
Do ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm nhận lạc, chứng và an trú Tam thiền; các bậc Thánh gọi là người có xả, có niệm, an trú trong lạc.
Do xả lạc, xả khổ, hỷ và ưu trước đó đã diệt, vị ấy chứng và an trú Tứ thiền, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Đây được gọi là Chánh định.
Này các Tỳ-khưu, đây được gọi là Thánh đạo Tám ngành.
Đại chúng: Sādhu, sādhu, sādhu — Lành thay, lành thay, lành thay.
Ghi chú: các câu Pāli SN 45.8 ở đây theo nguyên bản biên tập đang sử dụng; nơi có dấu lược phải đối chiếu bản kinh đầy đủ nếu dự định tụng toàn văn.
4429. KỆ ANEKĀJĀTI — PHÁP CÚ 153–154
29. ANEKAJĀTI GĀTHĀ (DHP 153–154)
(L) Anekajātisaṃsāraṃ, sandhāvissaṃ anibbisaṃ,
Gahakāraṃ gavesanto, dukkhā jāti punappunaṃ.
Gahakāraka diṭṭhosi, puna gehaṃ na kāhasi,
Sabbā te phāsukā bhaggā, gahakūṭaṃ visaṅkhataṃ,
Visaṅkhāragataṃ cittaṃ, taṇhānaṃ khayamajjhagā.
29. KỆ ANEKĀJĀTI — PHÁP CÚ 153–154
Những bài kệ Đức Phật tuyên thốt khi giác ngộ, nêu hình ảnh người dựng nhà (ái dục) và sự đoạn tận tái sinh.
Lang thang qua nhiều kiếp luân hồi, Ta tìm người dựng căn nhà này mà chưa gặp; tái sanh nhiều lần quả thật khổ đau. Hỡi người dựng nhà, nay Ta đã thấy ngươi! Ngươi không còn dựng được căn nhà nào nữa. Tất cả rui mè đã bị phá tan, đòn dông đã sụp đổ; tâm đã đạt đến vô vi, ái dục đã được đoạn tận.
45Hướng dẫn / nội dung tiếp theo
Hướng dẫn mục vụ, không phải một nghi thức Vinaya bắt buộc. Luôn hỏi ý nguyện của người bệnh, tôn trọng sự chăm sóc của nhân viên y tế, không làm ồn và tránh gây áp lực tâm lý đối với người đang yếu sức.
HỘ NIỆMNgười bệnh & lâm chung
TỤNG NIỆM CHO NGƯỜI BỆNH VÀ NGƯỜI LÂM CHUNG
02A. THĂM BỆNH VÀ TỤNG HỘ TRÌ (GILĀNA PARITTA)
1. Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Bojjhaṅgo satisaṅkhāto, dhammānaṃ vicayo tathā,
Vīriyaṃ pīti passaddhi, bojjhaṅgā ca tathāpare.
Samādhupekkhabojjhaṅgā, sattete sabbadassinā,
Muninā sammadakkhātā, bhāvitā bahulīkatā.
Saṃvattanti abhiññāya, nibbānāya ca bodhiyā,
Etena saccavajjena, sotthi te hotu sabbadā.
A. THĂM BỆNH VÀ TỤNG HỘ TRÌ (GILĀNA PARITTA)
Có thể đặt một hình Đức Phật trước mặt người bệnh nếu họ mong muốn. Việc dùng nước hoặc chỉ hộ trì tùy truyền thống và hoàn cảnh; không bắt buộc và không thay thế điều trị y khoa.
1. Niệm Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa ba lần.
2. Nếu người bệnh có khả năng và tự nguyện, hướng dẫn Quy y và Năm giới.
Nếu không, thân quyến có thể tự thọ trì giới và hồi hướng thiện tâm; không được xem là họ thọ giới thay cho người bệnh.
3. Tụng Bojjhaṅga Paritta theo nhu cầu và sức khỏe người nghe.
4. Có thể tụng Karaṇīya Mettā Sutta hoặc rải tâm từ.
5. Có thể hướng dẫn mười pháp quán từ Girimānanda Sutta nếu người bệnh đủ tỉnh táo và mong muốn quán niệm.
6. Tụng kệ chúc lành ngắn, hồi hướng công đức; dừng khi người bệnh cần nghỉ.
Bojjhaṅga Paritta — Bảy Giác chi
Niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn, hỷ, khinh an, định và xả giác chi — bảy pháp này được bậc Đại Giác chỉ dạy chân chánh, khi tu tập và phát triển nhiều,
đưa đến thắng trí, Niết-bàn và giác ngộ. Do lời chân thật này, nguyện quý vị luôn được an lành.
03Kệ chúc an lành cho người bệnh
Ekasmiṃ samaye nātho, moggallānañca kassapaṃ,
Gilāne dukkhite disvā, bojjhaṅge satta desayi.
Te ca taṃ abhinanditvā, rogā mucciṃsu taṅkhaṇe,
Etena saccavajjena, sotthi te hotu sabbadā.
Ekadā dhammarājāpi, gelaññenābhipīḷito,
Cundattherena taññeva, bhaṇāpetvāna sādaraṃ.
Sammoditvā ca ābādhā, tamhā vuṭṭhāsi ṭhānaso,
Etena saccavajjena, sotthi te hotu sabbadā.
Pahīnā te ca ābādhā, tiṇṇannampi mahesinaṃ,
Maggāhatakilesāva, pattānuppattidhammataṃ,
Etena saccavajjena, sotthi te hotu sabbadā.
Sabbarogavinimutto, sabbasantāpavajjito,
Sabbaveramatikkanto, nibbuto ca tuvaṃ bhava.
Sakkatvā saṅgharatanaṃ, osathaṃ uttamaṃ varaṃ,
Āhuneyyaṃ pāhuneyyaṃ, saṅghatejena sotthinā,
Nassantupaddavā sabbe, rogā vūpasamentu te.
Một thời Đức Thế Tôn thấy hai vị Moggallāna và Kassapa bị bệnh, chịu đau đớn, Ngài đã giảng bảy Giác chi.
Các Ngài hoan hỷ thọ nhận và thoát khỏi bệnh ngay lúc ấy. Do lời chân thật này, nguyện quý vị luôn được an lành.
Một lần chính Đức Pháp vương bị bệnh, Ngài cung thỉnh trưởng lão Cunda kính cẩn đọc lại pháp ấy.
Nghe xong và hoan hỷ, Ngài liền khỏi bệnh. Do lời chân thật này, nguyện quý vị luôn được an lành.
Các bệnh khổ của ba bậc Đại Thánh ấy đã được đoạn trừ, như những phiền não đã bị đạo trí đoạn tận không còn sanh trở lại.
Do lời chân thật này, nguyện quý vị luôn được an lành.
Kệ chúc an lành cho người bệnh
Nguyện quý vị thoát khỏi mọi bệnh tật, xa lìa những nóng bức khổ não, vượt khỏi oán hận và được an tịnh.
Do tôn kính Tăng bảo, là dược liệu tối thắng, bậc đáng được cúng dường và tiếp đãi; nhờ oai đức của Tăng bảo, nguyện mọi tai ách tiêu tan và bệnh khổ của quý vị được lắng dịu.
Lời an ủi có thể nói bằng tiếng Việt: “Nguyện thân quý vị được nhẹ nhàng, tâm được bình an. Hãy an trú nơi tâm từ, nhớ tưởng Tam bảo và nhận biết rằng mình đang được chăm sóc.”
04B. HỘ NIỆM CHO NGƯỜI ĐANG LÂM CHUNG
Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dutiyampi buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dutiyampi dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dutiyampi saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Tatiyampi buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Tatiyampi dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Tatiyampi saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Source of expanded formula: Khuddakapāṭha 1 (S05); SN 11.3 (S06).
Tam quy ba lượt đầy đủ (Khp 1):
Con xin nương tựa Đức Phật.
Con xin nương tựa Chánh pháp.
Con xin nương tựa Tăng-già.
Lần thứ hai, con xin nương tựa Đức Phật.
Lần thứ hai, con xin nương tựa Chánh pháp.
Lần thứ hai, con xin nương tựa Tăng-già.
Lần thứ ba, con xin nương tựa Đức Phật.
Lần thứ ba, con xin nương tựa Chánh pháp.
Lần thứ ba, con xin nương tựa Tăng-già.
B. HỘ NIỆM CHO NGƯỜI ĐANG LÂM CHUNG
Mục đích là hỗ trợ tâm an lành, không sợ hãi, không hối tiếc; không khẳng định một cách chắc chắn cảnh giới tái sanh của bất kỳ người nào. Ưu tiên sự đồng thuận và khả năng tiếp nhận của người bệnh.
1. Giữ phòng yên tĩnh; tránh tranh luận, áp đặt nghi lễ và để người bệnh được nghỉ.
2. Có thể nhắc nhẹ những thiện sự mà người bệnh đã làm: bố thí, trì giới, tâm từ và lòng biết ơn.
3. Nếu thích hợp, tụng chậm Tam quy, niệm công đức Phật–Pháp–Tăng hoặc những bài người bệnh quen thuộc.
4. Chỉ đọc năm điều quán tưởng về vô thường khi người nghe tỉnh táo, bình an và muốn lắng nghe.
5. Có thể khuyên người bệnh thầm niệm “Buddho” hoặc “Arahaṃ” trong sự tự nguyện, không ép buộc.
6. Phối hợp với gia đình và nhân viên chăm sóc; tuyệt đối không ép uống nước, ăn uống hay giữ tư thế gây khó chịu.
Tam quy tại giường bệnh
Bản tụng đầy đủ theo Khp 1 thay cho chữ viết tắt trong bản thảo.
05Niệm tưởng công đức Tam bảo
Itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho, vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū, anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti.
Svākkhāto bhagavatā dhammo, sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko, opanayiko paccattaṃ veditabbo viññūhīti.
Suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujupaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho; yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho, āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo, anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassāti.
Source of expanded formula: Khuddakapāṭha 1 (S05); SN 11.3 (S06).
Verses of refuge for the dying
Natthi me saraṇaṃ aññaṃ, buddho me saraṇaṃ varaṃ,
Etena saccavajjena, hotu te jayamaṅgalaṃ.
Mettā for the dying person
Sukhī hotu, niddukkho hotu, averā hotu, abyāpajjho hotu, anīgho hotu, sukhī attānaṃ pariharatu.
Niệm tưởng công đức Tam bảo
Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư,
Phật, Thế Tôn.
Chánh pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không lệ thuộc thời gian, đến để mà thấy, hướng thượng, được người có trí tự mình chứng biết.
Tăng chúng đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc khéo hành trì, hành trì ngay thẳng, hành trì đúng chánh đạo và hành trì thích đáng; tức bốn đôi, tám hạng Thánh nhân. Tăng chúng ấy đáng được cúng dường, tiếp đãi, hiến tặng và đảnh lễ, là ruộng phước vô thượng của thế gian.
Niệm Tăng bảo đã được đối chiếu và bổ sung theo SN 11.3.
Kệ nương tựa khi lâm chung
Con không có nơi nương tựa nào khác; Đức Phật là nơi nương tựa cao quý của con.
Do lời chân thật này, nguyện người được thắng lợi và tốt lành.
Lời nguyện tâm từ dành cho người sắp qua đời
Nguyện người được an vui, không khổ đau, không oán thù, không ác ý, không phiền não; nguyện người tự chăm sóc bản thân trong an lạc.
BẢN DỊCH MỚI DO BIÊN TẬP SOẠN TỪ PĀLI; chưa có chứng từ về người dịch đối với bản gốc. Cần thẩm định độc lập trước xuất bản.
06Niệm tưởng công đức Tam bảo — tiếp
Buddho … Buddho … Buddho … (Thai and Lao forest tradition) or Arahaṃ … Arahaṃ … (Burmese and Sri Lankan usage)
Mục đích là hỗ trợ tâm an lành, không sợ hãi, không hối tiếc; không khẳng định một cách chắc chắn cảnh giới tái sanh của bất kỳ người nào. Ưu tiên sự đồng thuận và khả năng tiếp nhận của người bệnh.
1. Giữ phòng yên tĩnh; tránh tranh luận, áp đặt nghi lễ và để người bệnh được nghỉ.
2. Có thể nhắc nhẹ những thiện sự mà người bệnh đã làm: bố thí, trì giới, tâm từ và lòng biết ơn.
3. Nếu thích hợp, tụng chậm Tam quy, niệm công đức Phật–Pháp–Tăng hoặc những bài người bệnh quen thuộc.
4. Chỉ đọc năm điều quán tưởng về vô thường khi người nghe tỉnh táo, bình an và muốn lắng nghe.
5. Có thể khuyên người bệnh thầm niệm “Buddho” hoặc “Arahaṃ” trong sự tự nguyện, không ép buộc.
6. Phối hợp với gia đình và nhân viên chăm sóc; tuyệt đối không ép uống nước, ăn uống hay giữ tư thế gây khó chịu.
07Hướng dẫn / nội dung tiếp theo
Phần nghi thức này được sử dụng khi trợ niệm trước lúc qua đời, trong lễ viếng, lễ hỏa táng hoặc an táng, và những dịp tưởng niệm người quá cố. Tài liệu nguồn nêu các lễ tưởng niệm ngày thứ bảy, năm mươi, một trăm và ngày giỗ; đây là những thời điểm theo tập quán, không phải lịch lễ bắt buộc chung cho mọi truyền thống Theravāda.
Giọng tụng an tĩnh, chậm rãi. Sách nguồn đề nghị không sử dụng các kệ chúc thắng lợi Jayamaṅgala trong tang lễ; đây là cách sắp xếp nghi lễ của tài liệu, không nên hiểu là một điều cấm phổ quát trong Giới luật.
Trình tự tham khảo: Đảnh lễ Đức Thế Tôn ba lần (Namo tassa) → quy y Tam bảo → gia quyến thọ trì năm giới → tụng các kệ được chọn dưới đây → cúng dường vải (paṃsukūla) → rót nước và hồi hướng công đức. Các nghi tiết cụ thể cần tuân theo vị trưởng lão chủ lễ và tập tục hợp pháp của tự viện.
PHẦN BỐNTang lễ & tưởng niệm
PHẦN BỐN —
TỤNG NIỆM TANG LỄ VÀ TƯỞNG NIỆM
021. KỆ QUÁN NIỆM VÔ THƯỜNG — ANICCA GĀTHĀ
Aniccā vata saṅkhārā, uppādavayadhammino, uppajjitvā nirujjhanti, tesaṃ vūpasamo sukho.
Aciraṃ vatayaṃ kāyo, pathaviṃ adhisessati, chuḍḍho apetaviññāṇo, niratthaṃva kaliṅgaraṃ.
Sabbe sattā maranti ca, mariṃsu ca marissare, tathevāhaṃ marissāmi, natthi me ettha saṃsayo.
Kusalā dhammā, akusalā dhammā, abyākatā dhammā.
1. KỆ QUÁN NIỆM VÔ THƯỜNG — ANICCA GĀTHĀ
Quả thật, các pháp hữu vi đều vô thường, có bản chất sinh khởi rồi hoại diệt.
Sau khi sinh khởi, chúng đều đoạn diệt; sự lắng yên của chúng là an lạc.
2. KỆ QUÁN THÂN
Chẳng bao lâu nữa, thân này sẽ nằm trên mặt đất, bị bỏ lại, không còn thức nhận biết, như một khúc gỗ vô dụng.
3. KỆ CÚNG DƯỜNG VẢI — PAṂSUKŪLA
Trong nghi thức của sách nguồn, chư Tăng tụng kệ khi nhận tấm vải đặt trên quan tài. Việc dâng vải và cách nhận cúng dường cần theo nề nếp địa phương và Giới luật liên quan.
Tất cả chúng sinh đều phải chết, đã từng chết và sẽ chết. Chính tôi cũng sẽ chết như vậy; về điều này, tôi không có gì nghi ngờ.
4. NĂM ĐIỀU QUÁN TƯỞNG
Xin đọc lại đầy đủ năm điều quán tưởng đã trình bày ở Phần Một, mục 7. Gia quyến có thể cùng tụng hoặc lắng nghe trong tâm niệm tỉnh thức. Không cần chép lại nguyên bài ở đây để tránh trùng lặp không cần thiết.
5. ĐỀ MỤC VI DIỆU PHÁP — ABHIDHAMMA MĀTIKĀ (CÂU MỞ ĐẦU)
Các pháp thiện, các pháp bất thiện và các pháp vô ký.
Sách nguồn ghi nhận một số cộng đồng Thái Lan và Myanmar có truyền thống tụng Vi Diệu Pháp trong tang lễ. Câu trên chỉ là câu mở đầu, không phải toàn văn bảy bộ Vi Diệu Pháp.
036. HỒI HƯỚNG ĐẾN NGƯỜI QUÁ VÃNG (TIROKUḌḌA — KỆ KẾT)
6. HỒI HƯỚNG ĐẾN NGƯỜI QUÁ VÃNG (TIROKUḌḌA — KỆ KẾT)
Yathā vārivahā pūrā, paripūrenti sāgaraṃ,
evameva ito dinnaṃ, petānaṃ upakappati.
Idaṃ vo ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo.
Idaṃ vo ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo.
Idaṃ vo ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo.
6. HỒI HƯỚNG ĐẾN NGƯỜI QUÁ VÃNG (TIROKUḌḌA — KỆ KẾT)
Như các dòng sông đầy nước đổ về làm đầy biển cả, cũng vậy, những vật thí được cúng dường nơi đây có thể mang lại lợi ích cho những người quá vãng.
Nguyện phước này được dành cho thân quyến đã quá vãng của quý vị; nguyện thân quyến được an vui.
Rót nước hồi hướng: Theo nghi lễ được mô tả trong sách nguồn, một người trong gia đình rót nước từ bình nhỏ vào bát trong khi chư Tăng tụng kệ Yathā vārivahā; sau lễ, có thể tưới phần nước ấy xuống gốc cây. Việc rót nước là một biểu tượng nghi lễ, không phải điều kiện bắt buộc để công đức có ý nghĩa.
7. NGHI THỨC HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC CHO NGƯỜI QUÁ VÃNG — PATTIDĀNA
Theo sách nguồn, nghi thức được cử hành sau khi gia đình cúng dường đến Tăng-già, tại lễ tang hoặc lễ tưởng niệm. Chuẩn bị một bình nước sạch, một bát nhận nước; nếu gia đình muốn, có thể viết tên người quá cố để xướng lên.
04Bước 1 — Lời hồi hướng của gia quyến
Pattidāna — Ñātīnaṃ anumodanā
Idaṃ me ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo.
Idaṃ me ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo.
Idaṃ me ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo.
Idaṃ me mātāpitūnaṃ hotu, sukhitā hontu mātāpitaro.
Idaṃ me ācariyupajjhāyānaṃ hotu, sukhitā hontu ācariyupajjhāyā.
Idaṃ sabbasattānaṃ hotu, sukhitā hontu sabbe sattā.
Bước 1 — Lời hồi hướng của gia quyến
Nguyện phước báu này đến với thân quyến quá vãng của con; nguyện thân quyến được an vui.
Nguyện phước báu này đến với cha mẹ con; nguyện cha mẹ được an vui.
Nguyện phước báu này đến với các bậc thầy và tế độ sư của con; nguyện chư vị được an vui.
Nguyện phước báu này đến với tất cả chúng sinh; nguyện hết thảy chúng sinh được an vui.
Khi xướng danh một người quá vãng, bản nguồn cung cấp công thức sau; cần nhờ vị chủ lễ kiểm tra ngữ pháp Pāli cho tên gọi và giới tính trước khi dùng như lời tác bạch chính thức:
Chúng con xin hồi hướng phần phước báu này đến người quá cố tên là …
Nguyện vị ấy được an vui, thoát khỏi khổ đau. (Bản nguồn còn ghi hình thức khác khi nêu tên người nữ; phải kiểm tra theo người được đề cập.)
05Bước 2 — Rót nước hồi hướng (Udaka Dhārā)
Yathā vārivahā pūrā, paripūrenti sāgaraṃ,
Evameva ito dinnaṃ, petānaṃ upakappati.
Icchitaṃ patthitaṃ tumhaṃ, khippameva samijjhatu,
Sabbe pūrentu saṅkappā, cando paṇṇaraso yathā,
Maṇi jotiraso yathā.
Bước 2 — Rót nước hồi hướng (Udaka Dhārā)
Khi chư Tăng bắt đầu tụng kệ tùy hỷ, một thành viên gia đình có thể chậm rãi rót nước vào bát, giữ bình bằng hai tay. Những người thân khác có thể đặt tay lên cánh tay người rót theo tập quán địa phương. Trong khi ấy, hãy hướng tâm nhớ đến người quá cố với lòng tri ân và nguyện lành.
Như sông đầy nước chảy về làm đầy biển cả, cũng vậy, những gì được cúng dường ở đây có thể lợi ích cho người quá vãng. Nguyện những ước nguyện chánh đáng của quý vị sớm được thành tựu; nguyện mọi ý nguyện được viên mãn như trăng rằm, như viên ngọc sáng rực rỡ.
Theo chỉ dẫn của sách nguồn, người rót nước kết thúc khi chư Tăng tụng tới câu cuối và chắp tay cung kính.
Bước 3 — Tụng Kinh Ngoài Bức Tường (Tirokuḍḍakaṇḍa)
Chư Tăng tụng bài kinh được trình bày ở mục 8 dưới đây. Sách nguồn cũng chỉ đến Phần Bảy, mục 2(e), để tham khảo một bản tụng khác và các kệ chúc lành.
06Bước 4 — Kệ Đại Hồi Hướng (Uddissanādhiṭṭhāna Gāthā)
Iminā puññakammena, upajjhāyā guṇuttarā,
Ācariyūpakārā ca, mātāpitā ca ñātakā,
Suriyo candimā rājā, guṇavantā narāpi ca,
Brahmamārā ca indā ca, lokapālā ca devatā,
Yamo mittā manussā ca, majjhattā verikāpi ca,
Sabbe sattā sukhī hontu, puññāni pakatāni me,
Sukhañca tividhaṃ dentu, khippaṃ pāpetha vo mataṃ.
Bước 4 — Kệ Đại Hồi Hướng (Uddissanādhiṭṭhāna Gāthā)
Do thiện sự và phước báu này, nguyện các bậc tế độ sư cao quý, các vị thầy có ân, cha mẹ và thân quyến, những người có đức hạnh, chư thiên và các vị hộ trì thế gian; bạn bè, người trung lập, cả những người từng bất hòa với chúng con — tất cả đều được an vui. Nguyện phước báu đã tạo đem đến lợi ích an lạc và trợ duyên hướng đến pháp bất tử. Danh mục các đối tượng được nêu trong kệ này thuộc truyền thống tụng niệm; không nên hiểu như một danh mục giáo lý bắt buộc chung cho mọi tự viện.
Bước 5 — Hoàn tất nghi thức rót nước
Sau buổi lễ, gia đình có thể rót nước xuống đất sạch hoặc dưới gốc cây, cùng tâm niệm: “Nguyện đất này chứng tri tấm lòng thiện lành. Nguyện người thân quá vãng được tùy hỷ phước báu và an vui.” Sách nguồn liên hệ biểu tượng này với tích Đức Phật gọi đất làm chứng; đây là cách lý giải nghi lễ, không phải câu kinh đang được trích nguyên văn.
Lời hồi hướng bằng tiếng Việt cho gia quyến
Nhờ công đức cúng dường, trì giới và nghe Chánh pháp trong ngày hôm nay, nguyện người thân tên là … được an lành, xa lìa sợ hãi và khổ đau. Nguyện vị ấy có thể tùy hỷ công đức lành này. Nguyện tất cả thân quyến đã quá vãng và mọi chúng sinh trong khắp các cõi đều được an vui.
Đại chúng: Sādhu! Sādhu! Sādhu! — Lành thay! Lành thay! Lành thay!
078. KINH NGOÀI BỨC TƯỜNG — TIROKUḌḌA SUTTA (KHUDDAKAPĀṬHA 7 / PETAVATTHU 1.5)
1. Tirokuḍḍesu tiṭṭhanti, sandhisiṅghāṭakesu ca,
Dvārabāhāsu tiṭṭhanti, āgantvāna sakaṃ gharaṃ.
2. Pahūte annapānamhi, khajjabhojje upaṭṭhite,
Na tesaṃ koci sarati, sattānaṃ kammapaccayā.
3. Evaṃ dadanti ñātīnaṃ, ye honti anukampakā,
Suciṃ paṇītaṃ kālena, kappiyaṃ pānabhojanaṃ.
4. Idaṃ vo ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo,
Te ca tattha samāgantvā, ñātipetā samāgatā.
5. Pahūte annapānamhi, sakkaccaṃ anumodare,
Ciraṃ jīvantu no ñātī, yesaṃ hetu labhāmase.
6. Amhākañca katā pūjā, dāyakā ca anipphalā,
Na hi tattha kasi atthi, gorakkhettha na vijjati.
8. KINH NGOÀI BỨC TƯỜNG — TIROKUḌḌA SUTTA (KHUDDAKAPĀṬHA 7 / PETAVATTHU 1.5)
Sách nguồn ghi đây là bài kinh về người thân quá vãng và việc hồi hướng phước báu. Theo câu chuyện trong chú giải, bài kinh gắn với việc vua Bimbisāra cúng dường và hồi hướng đến thân quyến đã mất. Phần dẫn giải thuộc truyền thống chú giải, cần phân biệt với nội dung các kệ Pāli.
Khi tụng lễ tưởng niệm, gia đình có thể cúng dường vật dụng hợp lệ đến Tăng-già, gìn giữ giới và hướng tâm tri ân người quá vãng. Việc rót nước và xướng danh là các thực hành nghi lễ được tài liệu hướng dẫn.
1. Bên ngoài những bức tường, tại ngã ba, ngã tư đường, bên cột cửa, họ đứng đó, trở về nơi từng là nhà mình.
2. Khi thức ăn, thức uống và các món ăn được bày ra đầy đủ, không ai nhớ tưởng đến họ, do nghiệp duyên của các chúng sinh ấy.
3. Vì lòng thương tưởng thân quyến, những người có tâm bi mẫn đúng thời cúng dường thức ăn, thức uống thanh tịnh, tốt đẹp và hợp pháp.
4. Họ nguyện: “Mong phước này đến với thân quyến quá vãng; mong thân quyến được an vui.” Những người thân quá vãng tụ hội về nơi ấy.
5. Trước thức ăn, thức uống dồi dào được hiến cúng, họ thành kính tùy hỷ:
“Nguyện thân quyến của chúng ta được sống lâu; nhờ những người ấy, chúng ta được lợi ích này.”
6. “Chúng ta đã được tưởng niệm và cúng dường; người bố thí cũng không mất phần phước.” Vì ở nơi ấy không có việc cày cấy hay chăn nuôi gia súc.
088. KINH NGOÀI BỨC TƯỜNG — TIROKUḌḌA SUTTA (KHUDDAKAPĀṬHA 7 / PETAVATTHU 1.5) — tiếp
7. Vaṇijjā tādisī natthi, hiraññena kayākayaṃ,
Ito dinnena yāpenti, petā kālakatā tahiṃ.
8. Unname udakaṃ vuṭṭhaṃ, yathā ninnaṃ pavattati,
Evameva ito dinnaṃ, petānaṃ upakappati.
9. Yathā vārivahā pūrā, paripūrenti sāgaraṃ,
Evameva ito dinnaṃ, petānaṃ upakappati.
7. Ở đó cũng không có việc buôn bán, mua đổi bằng vàng bạc. Những người đã quá vãng trong cảnh giới ấy nương nhờ sự cúng dường được thực hiện tại đây.
8. Như nước mưa rơi trên vùng cao chảy xuống nơi thấp, những vật thí được cúng dường ở đây cũng có thể đem lại lợi ích cho người quá vãng.
9. Như các dòng sông đầy nước đổ về làm đầy biển cả, những vật thí được cúng dường nơi đây cũng có thể đem lại lợi ích cho người quá vãng.
09Tưởng niệm và hồi hướng sau bài kinh
10. Adāsi me akāsi me, ñātimittā sakhā ca me,
Petānaṃ dakkhiṇaṃ dajjā, pubbe katamanussaraṃ.
11. Na hi ruṇṇaṃ vā soko vā, yā caññā paridevanā,
Na taṃ petānamatthāya, evaṃ tiṭṭhanti ñātayo.
12. Ayañca kho dakkhiṇā dinnā, saṅghamhi suppatiṭṭhitā,
Dīgharattaṃ hitāyassa, ṭhānaso upakappati.
13. So ñātidhammo ca ayaṃ nidassito,
Petāna pūjā ca katā uḷārā,
Balañca bhikkhūnamanuppadinnaṃ,
Tumhehi puññaṃ pasutaṃ anappakanti.
Idaṃ no ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo.
Idaṃ no ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo.
Idaṃ no ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo.
10. Nhớ rằng: “Người ấy từng cho ta, từng giúp ta; người ấy là thân quyến, bạn hữu, bằng hữu của ta”, nên làm việc bố thí hồi hướng đến người quá vãng, tưởng niệm những điều họ đã làm thuở trước.
11. Khóc than, sầu muộn hay những lời bi lụy khác không mang lại lợi ích cho người quá vãng; những thân quyến cứ như thế mà đứng lại.
12. Nhưng phẩm vật được cúng dường, khéo đặt nơi Tăng-già, có thể đem lại lợi ích cho họ ngay tại đó, vì sự an lạc lâu dài.
13. Như vậy, bổn phận đối với thân quyến đã được nêu rõ; người quá vãng đã được kính tưởng trọng thể; chư Tỳ-khưu đã được trợ lực; và quý vị đã tạo được phước báu không nhỏ.
Tưởng niệm và hồi hướng sau bài kinh
Gia đình ngồi yên trong chốc lát, tưởng nhớ người quá vãng và những việc thiện họ đã làm, rồi cùng tụng:
Idaṃ no ñātīnaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo. (ba lần)
Nguyện phước báu này dành cho thân quyến quá vãng của chúng con; nguyện tất cả thân quyến được an vui.
Mỗi người có thể tưởng niệm hoặc xướng tên người thân đã khuất. Lời nguyện tham khảo: “Nhờ phước báu từ sự cúng dường, trì giới và nghe Chánh pháp hôm nay, nguyện người thân … của con được tùy hỷ công đức, xa lìa khổ đau và được an lành. Nguyện tất cả thân quyến quá vãng trong hiện đời và nhiều đời đều được an vui.”
Đại chúng: Sādhu! Sādhu! Sādhu!
10A. LỄ CHÚC PHÚC TRẺ SƠ SINH
Phần này chuyển ngữ các nghi thức mẫu trong sách nguồn. Đây là cách tổ chức lễ theo tập tục của một số cộng đồng Theravāda, không phải một nghi thức bắt buộc được quy định đồng nhất trong Luật tạng. Nơi nào bài tụng được dẫn chiếu đến Phần Ba, cần sử dụng bản tụng đã kiểm chứng, nhất là khi sách nguồn có những phần rút gọn.
A. LỄ CHÚC PHÚC TRẺ SƠ SINH
Nghi lễ có thể được cử hành vào khoảng tháng đầu sau khi trẻ chào đời. Cha mẹ đưa trẻ đến trước tôn tượng Đức Phật, dâng hoa, thắp đèn hoặc hương theo điều kiện an toàn. Theo tập tục địa phương, một bát nước sạch có thể được đặt phía trước chư Tăng, cùng sợi chỉ hộ trì nối từ nơi thờ Phật đến bình nước và các vị tham dự. Các vật dụng trên không phải điều kiện bắt buộc để lễ chúc phúc có ý nghĩa.
PHẦN NĂMTrẻ sơ sinh & sinh nhật
PHẦN NĂM —
NGHI THỨC CHÚC PHÚC TRẺ SƠ SINH VÀ SINH NHẬT
02A1. Đảnh lễ Tam bảo — cư sĩ dẫn lễ
A. LỄ CHÚC PHÚC TRẺ SƠ SINH
A1. Ratanattayavandanā
Arahaṃ sammāsambuddho bhagavā, buddhaṃ bhagavantaṃ abhivādemi.
Svākkhāto bhagavatā dhammo, dhammaṃ namassāmi.
Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, saṅghaṃ namāmi.
Pubba-bhāga-namakāra (tikkhattuṃ)
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
A2. Tisaraṇa–Pañcasīla Yācanā
Mayaṃ bhante, visuṃ visuṃ rakkhaṇatthāya, tisaraṇena saha, pañca sīlāni yācāma.
Dutiyampi mayaṃ bhante, visuṃ visuṃ rakkhaṇatthāya, tisaraṇena saha, pañca sīlāni yācāma.
Tatiyampi mayaṃ bhante, visuṃ visuṃ rakkhaṇatthāya, tisaraṇena saha, pañca sīlāni yācāma.
Saraṇagamanaṃ — paṭhamavāra
Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
A1. Đảnh lễ Tam bảo — cư sĩ dẫn lễ
Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Con xin kính lễ Đức Phật.
Giáo pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng. Con xin kính lễ Chánh pháp.
Chúng đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc khéo thực hành. Con xin kính lễ Thánh Tăng.
Lời kính lễ Đức Phật (tụng ba lần)
Con xin đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. (Tụng ba lần.)
A2. Cha mẹ thỉnh Tam quy và Ngũ giới
Bạch chư Đại đức, chúng con kính thỉnh Tam quy cùng Ngũ giới, nguyện mỗi người tự mình thọ trì và gìn giữ.
Lần thứ hai, bạch chư Đại đức, chúng con kính thỉnh Tam quy cùng Ngũ giới, nguyện mỗi người tự mình thọ trì và gìn giữ.
Lần thứ ba, bạch chư Đại đức, chúng con kính thỉnh Tam quy cùng Ngũ giới, nguyện mỗi người tự mình thọ trì và gìn giữ.
Vị Tỳ-khưu hướng dẫn; cha mẹ đáp lời và tự mình phát nguyện. Phần này dành cho những người có khả năng tự ý thức và tự phát nguyện; không nên nói rằng em bé đã tự thọ nhận Ngũ giới.
Tam quy — lượt thứ nhất
Con xin quy y Phật.
Con xin quy y Pháp.
Con xin quy y Tăng.
03A3. Lời thỉnh tụng kinh hộ trì — người đại diện cư sĩ
Dutiyampi buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dutiyampi dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Dutiyampi saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Tatiyampi buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Tatiyampi dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Tatiyampi saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.
Pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Adinnādānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Kāmesumicchācārā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Musāvādā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Surāmeraya-majja-pamādaṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Sīlena sugatiṃ yanti, sīlena bhogasampadā, sīlena nibbutiṃ yanti, tasmā sīlaṃ visodhaye.
A3. Parittapāṭhāya Ārādhanā
Vipattipaṭibāhāya, sabbasampattisiddhiyā, sabbadukkhavināsāya, parittaṃ brūtha maṅgalaṃ.
Tisaraṇa-gamanaṃ niṭṭhitaṃ. — Āma, bhante.
Lần thứ hai, con xin quy y Phật.
Lần thứ hai, con xin quy y Pháp.
Lần thứ hai, con xin quy y Tăng.
Lần thứ ba, con xin quy y Phật.
Lần thứ ba, con xin quy y Pháp.
Lần thứ ba, con xin quy y Tăng.
Vị Tỳ-khưu: Phần quy y Tam bảo đã hoàn tất. Cha mẹ: Dạ vâng, bạch Đại đức.
Con xin thọ trì điều học tránh xa sự sát sinh.
Con xin thọ trì điều học tránh xa việc lấy của không được cho.
Con xin thọ trì điều học tránh xa tà hạnh trong các dục.
Con xin thọ trì điều học tránh xa lời nói dối.
Con xin thọ trì điều học tránh xa các chất say là nhân đưa đến phóng dật.
Nhờ giới hạnh, người tu đến cảnh giới an lành; nhờ giới hạnh, phước lành và điều kiện sống được tăng trưởng; nhờ giới hạnh, con đường tịch tịnh được mở ra. Vì vậy, hãy làm cho giới hạnh được thanh tịnh.
Đại chúng tùy hỷ: Sādhu! Sādhu! Sādhu!
A3. Lời thỉnh tụng kinh hộ trì — người đại diện cư sĩ
Để ngăn ngừa những điều bất lợi, vun bồi sự tốt lành và vượt qua khổ đau, chúng con cung thỉnh chư Đại đức tụng những bài kinh hộ trì cát tường.
04A4. Các bài chư Tăng trì tụng
Vipattipaṭibāhāya, sabbasampattisiddhiyā, sabbabhayavināsāya, parittaṃ brūtha maṅgalaṃ.
Vipattipaṭibāhāya, sabbasampattisiddhiyā, sabbarogavināsāya, parittaṃ brūtha maṅgalaṃ.
Để ngăn ngừa bất hạnh, tăng trưởng phước lành và làm lắng dịu sự sợ hãi, chúng con cung thỉnh chư Đại đức tụng kinh hộ trì.
Để ngăn ngừa những điều bất lợi, vun bồi an lành và cầu nguyện vượt qua bệnh tật, chúng con cung thỉnh chư Đại đức tụng kinh hộ trì.
A4. Các bài chư Tăng trì tụng
• 1. Thỉnh chư thiên — xem Phần Ba, mục 1.
• 2. Kinh Điềm Lành (Maṅgala Sutta) — Phần Ba, mục 2.
• 3. Kinh Châu Báu (Ratana Sutta) — Phần Ba, mục 3; dùng bản tụng đã đối chiếu, vì sách nguồn có dấu lược.
• 4. Kinh Từ Bi (Karaṇīya Mettā Sutta) — Phần Ba, mục 4.
• 5. Kệ Hộ Trì Aṅgulimāla — mục A5 dưới đây.
• 6. Kệ Chiến Thắng và Kệ Hộ Trì Chiến Thắng — Phần Ba, mục 5.
A5. Kệ Hộ Trì Aṅgulimāla — cho việc sinh nở và sức khỏe mẹ con Kệ dẫn nhập truyền thống trong sách nguồn (không đồng nhất với đoạn văn kinh trong MN 86):
05A6. Chúc phúc và đặt tên
A4. Parittapāṭha
A5. Aṅgulimāla Paritta
Parittaṃ yaṃ bhaṇantassa, nisinnaṭṭhāna-dhovanaṃ,
Udakampi vināseti, sabbameva parissayaṃ.
Sotthinā gabbha-vuṭṭhānaṃ, yañca sādheti taṅkhaṇe,
Therassaṅgulimālassa, lokanāthena bhāsitaṃ,
Kappaṭṭhāyiṃ mahātejaṃ, parittaṃ taṃ bhaṇāma he.
Yatohaṃ bhagini, ariyāya jātiyā jāto, nābhijānāmi sañcicca pāṇaṃ jīvitā voropetā, tena saccena sotthi te hotu, sotthi gabbhassa. (×3)
A6. Maṅgalāsīsana — Nāmakaraṇa
Sabbītiyo vivajjantu, sabbarogo vinassatu,
Mā te bhavatvantarāyo, sukhī dīghāyuko bhava.
Abhivādanasīlissa, niccaṃ vuḍḍhāpacāyino,
Cattāro dhammā vaḍḍhanti, āyu vaṇṇo sukhaṃ balaṃ.
Sabbarogavinimutto, sabbasantāpavajjito,
Sabbaveramatikkanto, nibbuto ca tuvaṃ bhava.
Theo lời kệ hộ trì truyền thống, ngay cả nước rửa nơi an tọa của vị trì tụng cũng được xem là biểu tượng của sự hóa giải hiểm nguy; bài kệ nguyện cho việc sinh nở được bình an. Nay chúng ta cùng tụng lời hộ trì gắn với Tôn giả Aṅgulimāla, do Đức Thế Tôn chỉ dạy.
Câu chân ngôn sự thật được ghi trong bản nguồn, liên hệ Kinh Aṅgulimāla (MN 86); cần đối chiếu chính xác cách đọc và ngữ cảnh trước khi dùng làm bản nghi lễ chuẩn:
Này chị, từ khi tôi được sinh ra trong đời sống bậc Thánh, tôi không nhớ mình đã cố ý tước đoạt mạng sống của bất kỳ sinh vật nào. Với sự thật ấy, nguyện chị được bình an, nguyện thai nhi được bình an. (Tụng ba lần.)
A6. Chúc phúc và đặt tên
Theo tập tục được nêu trong sách nguồn, vị trưởng lão có thể buộc sợi chỉ đã được chú nguyện vào cổ tay trẻ và cha mẹ; đại chúng cùng tụng kệ chúc lành:
Nguyện mọi điều bất lành đều được tránh xa; nguyện bệnh tật tiêu trừ; nguyện con không gặp hiểm nguy, được an vui và sống lâu.
Người thường biết đảnh lễ và kính trọng bậc trưởng thượng được tăng trưởng bốn điều: thọ mạng, dung sắc, an lạc và sức mạnh.
Nguyện con được xa lìa bệnh tật, tránh khỏi khổ não, vượt qua oán hận, an trú trong sự an tịnh.
Nếu có nghi thức đặt tên, gia đình chọn tên theo tập tục; vị chủ lễ có thể xướng tên đã chọn ba lần, rồi tụng lời nguyện:
06A7. Tùy hỷ và hồi hướng công đức
Sukhī hotu, niddukkho hotu, averā hotu, abyāpajjho hotu, anīgho hotu, sukhī attānaṃ pariharatu.
A7. Anumodanā — Pattidāna
Yathā vārivahā pūrā, paripūrenti sāgaraṃ, evameva ito dinnaṃ, petānaṃ upakappati.
Icchitaṃ patthitaṃ tumhaṃ, khippameva samijjhatu, sabbe pūrentu saṅkappā, cando paṇṇaraso yathā.
Bhavatu sabbamaṅgalaṃ, rakkhantu sabbadevatā, sabbabuddhānubhāvena, sadā sotthī bhavantu te.
Bhavatu sabbamaṅgalaṃ, rakkhantu sabbadevatā, sabbadhammānubhāvena, sadā sotthī bhavantu te.
Bhavatu sabbamaṅgalaṃ, rakkhantu sabbadevatā, sabbasaṅghānubhāvena, sadā sotthī bhavantu te.
Nguyện em bé được an vui, xa lìa khổ đau, không oán thù, không sân hận, không ưu phiền và tự lớn lên trong an lành.
Theo tập tục, có thể rảy nước chúc lành lên trẻ, cha mẹ và khách dự lễ. Cần luôn giữ an toàn và sự thoải mái của trẻ làm ưu tiên.
A7. Tùy hỷ và hồi hướng công đức
Như các dòng sông đầy nước đổ về làm đầy đại dương, sự cúng dường thực hiện ở đây cũng có thể đem lại lợi ích cho những người quá vãng đủ duyên tiếp nhận.
Nguyện những ước mong chân chính của quý vị sớm được thành tựu; nguyện những thiện nguyện được tròn đầy như vầng trăng ngày rằm.
Nguyện mọi điều cát tường đến với quý vị; nguyện chư thiên hộ trì; nương uy đức chư Phật, nguyện quý vị luôn an lành. (Các lượt tiếp theo thay bằng uy đức Chánh pháp và uy đức Tăng-già.)
Đại chúng tùy hỷ: Sādhu! Sādhu! Sādhu! — Đảnh lễ Tam bảo.
07A8. Kesacchedana / Tham Khwan Duean
A8. Kesacchedana / Tham Khwan Duean
A8. Lễ cắt tóc tháng đầu — Kesa Chedana / Tham Khwan Duean Tại một số gia đình Thái, Lào, Khmer và Sri Lanka, việc cắt tóc đầu đời được tổ chức khoảng tháng đầu sau sinh nhằm biểu thị một khởi đầu mới.
Có thể kết hợp với lễ chúc phúc A1–A7. Đây là phong tục gia đình, không phải nghi thức Luật tạng bắt buộc. Cha mẹ, ông bà hoặc người thân có kinh nghiệm thực hiện việc cắt tóc; chư Tăng chủ trì tụng niệm, chúc phúc theo tập tục.
Chuẩn bị trước khoảng hai đến bốn tuần
Vật dụng nơi hành lễ
Vật dụng cắt tóc
Chuẩn bị trước khoảng hai đến bốn tuần
• ☐ Thống nhất ngày lễ với vị trụ trì hay bậc trưởng thượng theo tập tục gia đình.
• ☐ Cung thỉnh chư Tăng và thỏa thuận thời gian, thường vào buổi sáng để có thể cúng dường trai tăng trước giờ ngọ. Số vị tham dự là tập tục, không phải điều kiện bắt buộc của một lễ chúc phúc.
• ☐ Chọn địa điểm: tư gia hoặc chánh điện của tự viện.
08Vật dụng nơi hành lễ
• ☐ Mời ông bà, thân quyến và người trưởng thượng tham gia nghi thức cắt một lọn tóc.
• ☐ Nếu gia đình muốn thỉnh vị trưởng lão đặt tên, hãy bàn trước về cách tổ chức.
Vật dụng nơi hành lễ
• ☐ Tôn tượng Đức Phật đặt tại nơi sạch sẽ, trang nghiêm.
• ☐ Hoa tươi, đèn và hương nếu phù hợp, không để gần trẻ.
• ☐ Chỗ ngồi hoặc tọa cụ phù hợp cho chư Tăng và khách dự lễ.
• ☐ Bát nước sạch; sợi chỉ hộ trì màu trắng và dụng cụ rảy nước nếu gia đình theo tập tục này.
Vật dụng cắt tóc
Vật dụng chúc phúc và cúng dường
Trình tự nghi lễ tham khảo
• ☐ Kéo nhỏ sạch hoặc dụng cụ tỉa tóc phù hợp với trẻ sơ sinh, chỉ dùng bởi người lớn có kinh nghiệm.
• ☐ Nước ấm, khăn mềm và vải sạch để giữ đầu trẻ thoải mái.
09Vật dụng chúc phúc và cúng dường
• ☐ Lá sen, lá chuối hay khăn trắng sạch để đựng lọn tóc, cùng hộp cất giữ nếu cần.
• ☐ Quần áo sạch cho trẻ sau lễ.
Vật dụng chúc phúc và cúng dường
• ☐ Những đoạn chỉ trắng ngắn để buộc cổ tay, nếu gia đình theo tập tục ấy.
• ☐ Lễ vật tặng trẻ, tùy tâm và không bắt buộc.
• ☐ Thực phẩm cúng dường chư Tăng trước giờ ngọ; nước uống và các vật dụng hợp lệ khác, nếu gia đình phát tâm.
• ☐ Không trao trực tiếp tiền hoặc phong bì tiền đến Tỳ-khưu; mọi khoản hỗ trợ tài chính cần xử lý qua người hộ trì hợp lệ và theo Giới luật.
Trình tự nghi lễ tham khảo
Lưu ý an toàn cho trẻ
• Đảnh lễ Tam bảo và thực hiện các mục chúc phúc A1–A5.
• Trong khi chư Tăng tụng Kinh Từ Bi hoặc Kệ Chiến Thắng, bậc trưởng thượng trong gia đình tượng trưng cắt một lọn tóc, sau đó cha mẹ và ông bà có thể lần lượt chúc phúc. Nếu cần, cha mẹ tỉa phần tóc còn lại một cách an toàn.
10Lưu ý an toàn cho trẻ
• Đặt lọn tóc vào lá sen hoặc khăn sạch.
• Thực hiện lời chúc lành và đặt tên theo A6; có thể buộc chỉ và rảy nước nếu thích hợp.
• Cúng dường trai tăng theo nghi thức của tự viện trước giờ ngọ.
• Chư Tăng tụng kệ tùy hỷ, hồi hướng theo A7.
• Gia đình cất giữ hoặc xử lý lọn tóc theo tập quán, bảo vệ môi trường và an toàn vệ sinh.
Lưu ý an toàn cho trẻ
• Đặt sự thoải mái của trẻ lên trên hết; dừng ngay nếu trẻ khó chịu. Chỉ cắt tượng trưng vài sợi bằng kéo sạch cũng có thể đủ theo tập tục.
• Không cạo gần thóp, vùng da kích ứng hay tổn thương; khi không chắc chắn, hỏi nhân viên y tế.
• Giữ lửa, hương đang cháy và nước nóng xa trẻ.
• Người cắt tóc rửa tay, dùng dụng cụ sạch và không dùng chung dao cạo.
11B. LỄ CHÚC PHÚC NGÀY SINH NHẬT VÀ CHÚC THỌ
B. LỄ CHÚC PHÚC NGÀY SINH NHẬT VÀ CHÚC THỌ
B1. Tisaraṇa — Pañcasīla
B2. Bhattadāna — Ārādhanā
Imāni mayaṃ bhante, bhattāni saparivārāni, bhikkhusaṅghassa onojayāma.
Sādhu no bhante, bhikkhusaṅgho, imāni bhattāni saparivārāni paṭiggaṇhātu, amhākaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya.
B. LỄ CHÚC PHÚC NGÀY SINH NHẬT VÀ CHÚC THỌ
Nghi thức có thể áp dụng cho mọi lứa tuổi, đặc biệt các dịp mừng thọ 60, 72,
84 tuổi theo tập quán một số gia đình. Người được chúc phúc có thể phát tâm cúng dường trai tăng trước giờ ngọ rồi thọ nhận lời tụng chúc lành. Đây là nghi lễ cộng đồng, không phải một pháp thức Vinaya bắt buộc.
B1. Đảnh lễ, thọ Tam quy và Ngũ giới
Người được mừng sinh nhật tự mình thực hành các bước A1 và A2 (phần trên).
B2. Tác bạch cúng dường đến Tăng-già
Bạch chư Đại đức, chúng con xin thành kính dâng những phần vật thực cùng các phẩm vật kèm theo đến Tăng-già Tỳ-khưu. Kính thỉnh chư Tăng từ bi thọ nhận, để đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho chúng con.
B3. Thỉnh tụng kinh hộ trì
Tụng lời thỉnh như mục A3.
B4. Các bài tụng chúc phúc
• Thỉnh chư thiên — Phần Ba, mục 1.
• Kinh Điềm Lành — Phần Ba, mục 2.
• Kinh Từ Bi — Phần Ba, mục 4.
• Kệ Chiến Thắng và Kệ Hộ Trì Chiến Thắng — Phần Ba, mục 5.
12B5. Kệ chúc thọ — Āyu Vaḍḍhana
B3. Parittārādhanā
B4. Parittapāṭha
B5. Āyuvaḍḍhana
Abhivādanasīlissa, niccaṃ vuḍḍhāpacāyino,
Cattāro dhammā vaḍḍhanti, āyu vaṇṇo sukhaṃ balaṃ.
Sabbītiyo vivajjantu, sabbarogo vinassatu,
Mā te bhavatvantarāyo, sukhī dīghāyuko bhava.
Āyurārogya-sampatti, saggasampattimeva ca,
Tato nibbānasampatti, iminā te samijjhatu.
B6. Jarādhamma — Kammassakatā
Jarādhammomhi, jaraṃ anatīto.
Byādhidhammomhi, byādhiṃ anatīto.
Maraṇadhammomhi, maraṇaṃ anatīto.
Sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo.
Kammassakomhi, kammadāyādo, kammayoni, kammabandhu, kammapaṭisaraṇo; yaṃ kammaṃ karissāmi, kalyāṇaṃ vā pāpakaṃ vā, tassa dāyādo bhavissāmi.
B5. Kệ chúc thọ — Āyu Vaḍḍhana
Người thường biết đảnh lễ, kính trọng các bậc trưởng thượng được tăng trưởng bốn điều: thọ mạng, dung sắc, an lạc và sức mạnh.
Nguyện những điều bất lành được tránh xa, bệnh tật tiêu trừ, không gặp hiểm nguy, được an vui và trường thọ.
Nguyện nhờ phước lành này mà thọ mạng và sức khỏe được tăng trưởng; nguyện có những thiện duyên an lạc, và trên hết hướng đến sự chứng đạt Niết-bàn.
B6. Quán niệm trong ngày sinh nhật
Người được chúc phúc quán niệm theo sự hướng dẫn của vị Tỳ-khưu:
Tôi có bản chất phải già; tôi chưa vượt khỏi sự già.
Tôi có bản chất phải bệnh; tôi chưa vượt khỏi sự bệnh.
Tôi có bản chất phải chết; tôi chưa vượt khỏi sự chết.
Tôi sẽ phải đổi thay, chia lìa tất cả những gì thân thương, quý mến.
Tôi là chủ nhân của nghiệp, là người thừa tự nghiệp; nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc, là nơi nương tựa của tôi. Bất cứ nghiệp gì tôi tạo, thiện hay bất thiện, tôi sẽ là người thừa tự nghiệp ấy.
Mỗi lần mừng sinh nhật cũng nhắc chúng ta rằng một năm của đời người đã trôi qua; vì vậy, hãy trân quý quãng đời còn lại để vun bồi thiện pháp.
B7. Tùy hỷ, chúc phúc và kết lễ
Chư Tăng tụng lời tùy hỷ và hồi hướng như mục A7. Theo tập tục gia đình, có thể buộc sợi chỉ vào cổ tay người được chúc phúc và rảy nước chúc lành.
Đại chúng cùng xướng: Sādhu! Sādhu! Sādhu! — rồi đảnh lễ Tam bảo.
13Hướng dẫn / nội dung tiếp theo
Các nghi lễ dưới đây theo tập quán của một số cộng đồng Theravāda, không phải tất cả đều là nghi thức bắt buộc theo Luật tạng. Tùy hoàn cảnh, đại chúng có thể mở đầu bằng đảnh lễ Tam bảo, thọ Tam quy – Ngũ giới hoặc Bát quan trai giới, rồi kết thúc bằng tùy hỷ và hồi hướng công đức (Phần Bảy).
PHẦN SÁUCác nghi thức khác
PHẦN SÁU —
CÁC NGHI THỨC KHÁC
02KỆ KẾT KINH HỘ TRÌ BẢY GIÁC CHI (BOJJHAṄGA PARITTA)
Etena saccavajjena, sotthi te hotu sabbadā. (tụng ba lần)
AṬṬHAṄGA UPOSATHA
Mayaṃ bhante, tisaraṇena saha, aṭṭhaṅga-samannāgataṃ uposathaṃ yācāma.
1. Pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
2. Adinnādānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
3. Abrahmacariyā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
KỆ KẾT KINH HỘ TRÌ BẢY GIÁC CHI (BOJJHAṄGA PARITTA)
Do lời chân thật này, nguyện quý vị luôn được an lành. (Tụng ba lần.)
Đây là kệ kết được dùng trong một số nghi thức hộ trì người bệnh, không phải toàn văn kinh về Bảy Giác chi.
THỌ BÁT QUAN TRAI GIỚI (AṬṬHAṄGA UPOSATHA)
Lời thỉnh thọ giới
Bạch Đại đức, chúng con kính thỉnh truyền trao Bát quan trai giới, cùng với Tam quy, để chúng con thọ trì.
Vị Tỳ-khưu hướng dẫn đảnh lễ Đức Phật ba lần bằng câu “Namo tassa…” và đọc Tam quy để giới tử nhắc lại. Tiếp theo, từng học giới được tuyên đọc rõ ràng và giới tử tự mình phát nguyện thọ trì.
Con xin thọ trì học giới tránh xa sự sát hại sinh mạng.
Con xin thọ trì học giới tránh xa việc lấy của không được cho.
Con xin thọ trì học giới tránh xa mọi hành vi dâm dục.
Con xin thọ trì học giới tránh xa lời nói dối.
Con xin thọ trì học giới tránh xa rượu, chất say, nguyên nhân của sự phóng dật.
03(tụng ba lần)
4. Musāvādā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
5. Surāmeraya-majja-pamādaṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
6. Vikālabhojanā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
7. Nacca-gīta-vādita-visūkadassana-mālā-gandha-vilepana-dhāraṇa-maṇḍana-vibhūsanaṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
8. Uccāsayana-mahāsayanā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Con xin thọ trì học giới tránh xa việc ăn phi thời (sau giờ ngọ cho đến sáng hôm sau).
Con xin thọ trì học giới tránh xa múa hát, âm nhạc, trò diễn, và tránh dùng tràng hoa, hương thơm, mỹ phẩm để trang sức.
Con xin thọ trì học giới tránh xa giường, ghế cao sang và xa hoa.
Thọ trì cả tám học giới (đồng thanh): Imāni aṭṭha sikkhāpadāni samādiyāmi.
(tụng ba lần)
Con xin thọ trì tám học giới này. (Đọc ba lần.)
(L) Vị Tỳ-khưu kết lời: Sīlena sugatiṃ yanti, sīlena bhogasampadā, sīlena nibbutiṃ yanti, tasmā sīlaṃ visodhaye.
Do giới hạnh, chúng sinh hướng đến cảnh giới tốt đẹp; do giới hạnh, có được sự sung túc; do giới hạnh, hướng đến an tịnh. Vì vậy, hãy thanh lọc giới hạnh.
Đại chúng cùng đáp: “Sādhu! Sādhu! Sādhu!” — Lành thay! Lành thay!
Lành thay!
Lưu ý: Bát quan trai giới là sự phát nguyện của mỗi người thọ trì. Không đồng nhất nghi thức này với Uposatha và việc tụng Pāṭimokkha của Tăng-già Tỳ-khưu.
04KỆ GIÁO GIỚI PĀṬIMOKKHA (OVĀDA PĀṬIMOKKHA) — LỄ MĀGHA PŪJĀ
OVĀDA PĀṬIMOKKHA
Sabbapāpassa akaraṇaṃ, kusalassa upasampadā, sacittapariyodapanaṃ, etaṃ buddhāna sāsanaṃ.
KỆ GIÁO GIỚI PĀṬIMOKKHA (OVĀDA PĀṬIMOKKHA) — LỄ MĀGHA PŪJĀ
Không làm các điều ác; thành tựu các thiện pháp; giữ tâm ý trong sạch: ấy là lời chư Phật dạy.
Đây là bài kệ giáo giới, không phải toàn văn Bộ giới Pāṭimokkha gồm các điều học của Tỳ-khưu.
05NGHI THỨC CÚNG DƯỜNG TRAI TĂNG VÀ CHÚC PHÚC THÍ CHỦ
BHATTADĀNA — ĀRĀDHANĀ
Imāni mayaṃ bhante, bhattāni saparivārāni, bhikkhusaṅghassa onojayāma.
Sādhu no bhante, bhikkhusaṅgho, imāni bhattāni saparivārāni paṭiggaṇhātu, amhākaṃ dīgharattaṃ hitāya sukhāya.
(c) Bhojanadānānumodanā
Āyudo balado dhīro, vaṇṇado paṭibhāṇado,
Sukhassa dātā medhāvī, sukhaṃ so adhigacchati.
Āyuṃ datvā balaṃ vaṇṇaṃ, sukhañca paṭibhāṇado,
Dīghāyu yasavā hoti, yattha yatthūpapajjatīti.
NGHI THỨC CÚNG DƯỜNG TRAI TĂNG VÀ CHÚC PHÚC THÍ CHỦ
Có thể thực hiện tại tự viện hoặc nhà thí chủ; phần cúng dường vật thực cho chư Tăng được sắp xếp trước giờ ngọ. Những bước sau là trình tự gợi ý theo tập quán; việc nhận vật thực và thọ dụng cần phù hợp giới luật.
Bước 1 — Đảnh lễ Tam bảo, thọ Tam quy và Ngũ giới
Gia chủ cùng đại chúng đọc “Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa” ba lần, sau đó thỉnh thọ Tam quy và Ngũ giới theo Phần Bảy, mục 1.
Bước 2 — Tác bạch cúng dường
Bạch chư Đại đức, chúng con xin thành kính dâng phần vật thực cùng các phẩm vật kèm theo đến Tăng-già Tỳ-khưu. Ngưỡng mong chư Tăng từ bi thọ nhận, để chúng con được lợi ích và an lạc lâu dài.
Thí chủ dâng vật thực theo cách thích hợp. Chư Tăng tiếp nhận đúng phép; nghi thức này không thay thế các quy định về việc thọ nhận vật thực trong Luật tạng.
06Bước 3 — Quán tưởng trước khi thọ thực
(d) Kāladāna Sutta (AN 5.36)
Kāle dadanti sapaññā, vadaññū vītamaccharā,
Kālena dinnaṃ ariyesu, ujubhūtesu tādisu,
Vippasannamanā tassa, vipulā hoti dakkhiṇā.
Ye tattha anumodanti, veyyāvaccaṃ karonti vā,
Na tena dakkhiṇā onā, tepi puññassa bhāgino.
Tasmā dade appaṭivānacitto, yattha dinnaṃ mahapphalaṃ,
Puññāni paralokasmiṃ, patiṭṭhā honti pāṇinaṃ.
(e) Dāna — SN 1.42
Annado balado hoti, vatthado hoti vaṇṇado,
Bước 3 — Quán tưởng trước khi thọ thực
Chư Tăng quán xét vật thực một cách như lý theo bài “Paṭisaṅkhā yoniso piṇḍapātaṃ paṭisevāmi…” được ghi ở Phần Một, mục 6; ở đây sách nguồn chỉ dẫn chiếu, không chép lại toàn văn.
Bước 4 — Tùy hỷ và chúc phúc thí chủ
Sau bữa thọ thực, thí chủ chắp tay trước chư Tăng. Tùy truyền thống, việc rót nước tượng trưng cho sự hồi hướng có thể được thực hiện. Chư Tăng tụng những bài đã ghi trong Phần Bảy: kệ mở đầu “Yathā vārivahā…”, kệ chúc phúc chung và các kệ thích hợp với việc cúng dường.
(c) Kệ tùy hỷ cúng dường vật thực — Bhojanadānānumodanā Người trí bố thí vật thực là người trao tặng thọ mạng, sức mạnh, dung sắc, khả năng biện giải; bậc có trí trao tặng an lạc cũng sẽ đạt được an lạc.
Nhờ trao tặng thọ mạng, sức mạnh, dung sắc, an lạc và khả năng biện giải, vị ấy có thể hưởng quả trường thọ, danh thơm ở những nơi tái sinh.
(d) Kệ bố thí đúng thời — Kāladāna Sutta (AN 5.36)
Những người có trí, rộng lòng và không xan tham biết bố thí đúng thời; khi cúng dường đúng lúc đến các bậc chân chánh, tâm hoan hỷ trong sáng khiến phẩm vật cúng dường có quả lớn.
07(e) Những lợi ích của việc bố thí — SN 1.42
Yānado sukhado hoti, dīpado hoti cakkhudo.
So ca sabbadado hoti, yo dadāti upassayaṃ,
Amataṃ dado ca so hoti, yo dhammamanusāsati.
(f) Ratanattayānubhāva
Ratanattayānubhāvena, ratanattayatejasā,
Dukkharogabhayā verā, sokā sattu cupaddavā,
Anekā antarāyāpi, vinassantu asesato.
Jayasiddhi dhanaṃ lābhaṃ, sotthi bhāgyaṃ sukhaṃ balaṃ,
Siri āyu ca vaṇṇo ca, bhogaṃ vuḍḍhī ca yasavā,
Satavassā ca āyū ca, jīvasiddhī bhavantu te.
Người tùy hỷ hoặc góp công phục vụ cũng được dự phần công đức; điều ấy không làm giảm giá trị của sự cúng dường.
Do vậy, hãy bố thí với tâm không do dự, tại nơi vật thí có quả lớn. Các thiện nghiệp là nơi nương tựa của hữu tình trong đời sau.
(e) Những lợi ích của việc bố thí — SN 1.42
Người cho vật thực là trao sức mạnh; cho y phục là trao dung sắc; cho phương tiện đi lại là trao sự thuận tiện; cho ánh sáng là trao thị lực.
Người trao chỗ ở là người trao nhiều lợi ích; còn người chỉ dạy Chánh pháp là người trao con đường đến bất tử.
(f) Kệ chúc lành nương oai đức Tam bảo — Ratanattayānubhāva Nhờ oai đức và uy lực của Tam bảo, nguyện mọi khổ đau, bệnh tật, sợ hãi, oán thù, ưu sầu cùng những tai họa đều được tiêu trừ.
Nguyện quý vị thành tựu thắng lợi, sự thịnh đạt, lợi ích, an ổn, may lành, hạnh phúc, sức mạnh, danh dự, thọ mạng, dung sắc và sự tăng trưởng.
Nguyện được trường thọ, mọi sự tốt lành và những duyên lành trong đời được thành tựu.
Kết lễ bằng “Bhavatu sabbamaṅgalaṃ…” theo Phần Ba, mục 5. Thí chủ cùng đáp “Sādhu! Sādhu! Sādhu!”. Nước hồi hướng có thể được tưới dưới gốc cây theo tập tục, tránh làm ô nhiễm môi trường.
08CHÚC PHÚC NHÂN DỊP KHAI TRƯƠNG CƠ SỞ KINH DOANH
CHÚC PHÚC NHÂN DỊP KHAI TRƯƠNG CƠ SỞ KINH DOANH
Đây là nghi thức chúc lành theo tập quán Phật tử, không phải một pháp sự bắt buộc trong Vinaya; việc tụng kinh không bảo đảm lợi nhuận hay thay thế trách nhiệm kinh doanh chân chánh. Thường thực hiện vào buổi sáng nếu có cúng dường trai tăng trước giờ ngọ.
A. Chuẩn bị
1. Gia chủ thỉnh chư Tăng và thống nhất thời gian với vị phụ trách tự viện; số lượng chư Tăng có thể tùy điều kiện, các số lẻ là tập quán tại một số nơi.
2. Sắp một bàn thờ trang nghiêm, có tôn tượng Đức Phật, hoa, đèn, hương nếu thích hợp; sắp chỗ ngồi chư Tăng đúng mực, an toàn.
09B. Trình tự hành lễ
3. Có thể chuẩn bị bát nước sạch để chúc lành; chú ý an toàn đối với đèn, lửa và trẻ em.
4. Sợi chỉ hộ trì bằng bông trắng có thể được dùng tùy truyền thống địa phương; không xem đây là điều kiện bắt buộc để một lời tụng có hiệu lực.
5. Chuẩn bị vật thực và tứ sự cúng dường trong phạm vi đúng phép và tự nguyện.
6. Gia chủ quán xét Chánh mạng. AN 5.177 nói đến năm loại mua bán người cư sĩ nên tránh: vũ khí (satthavaṇijjā), sinh mạng (sattavaṇijjā), thịt (maṃsavaṇijjā), chất say (majjavaṇijjā), chất độc (visavaṇijjā).
B. Trình tự hành lễ
10C. Các kệ về tinh tấn, Chánh mạng và sử dụng tài sản
Vipattipaṭibāhāya, sabbasampattisiddhiyā, sabbadukkhavināsāya, parittaṃ brūtha maṅgalaṃ.
Vipattipaṭibāhāya, sabbasampattisiddhiyā, sabbabhayavināsāya, parittaṃ brūtha maṅgalaṃ.
Vipattipaṭibāhāya, sabbasampattisiddhiyā, sabbarogavināsāya, parittaṃ brūtha maṅgalaṃ.
Uṭṭhātā kammadheyyesu, appamatto vidhānavā,
1. Gia chủ dâng hoa, đèn hoặc hương trước Tam bảo theo phong tục thích hợp.
2. Thỉnh Tam quy, Ngũ giới (Phần Bảy, mục 1).
3. Tác bạch thỉnh tụng kinh hộ trì.
4. Chư Tăng có thể tụng Thỉnh Chư Thiên, Kinh Điềm Lành, Kinh Châu
Báu, Kinh Từ Bi, Khandha Paritta, kệ chúc lành và Kệ Chiến Thắng theo các phần tương ứng của sách.
5. Nếu có cúng dường trai tăng, tiến hành trước giờ ngọ theo mục trước.
6. Có thể rảy nước chúc lành tại một vài vị trí tượng trưng trong cơ sở kinh doanh, nếu đó là tập tục của tự viện và phù hợp điều kiện an toàn.
7. Buộc chỉ cổ tay hoặc tại lối vào (nếu có) cũng chỉ là tập tục tùy chọn.
8. Chư Tăng tùy hỷ, hồi hướng công đức (Phần Bảy).
9. Đại chúng cùng thưa: “Sādhu! Sādhu! Sādhu!” rồi đảnh lễ Tam bảo.
Để ngăn ngừa những điều bất lợi, thành tựu các điều tốt lành và tiêu trừ mọi khổ đau, kính thỉnh tụng kinh hộ trì cát tường.
Để ngăn ngừa những điều bất lợi, thành tựu các điều tốt lành và tiêu trừ mọi sợ hãi, kính thỉnh tụng kinh hộ trì cát tường.
Để ngăn ngừa những điều bất lợi, thành tựu các điều tốt lành và tiêu trừ mọi bệnh tật, kính thỉnh tụng kinh hộ trì cát tường.
C. Các kệ về tinh tấn, Chánh mạng và sử dụng tài sản
Kinh Dīghajāṇu (AN 8.54):
Siêng năng trong công việc, không phóng dật, biết sắp xếp công việc hợp lý, sống cân đối với khả năng và giữ gìn tài sản đã tích lũy.
11D. Pháp thoại ngắn (tùy chọn)
Saddho sīlena sampanno, vadaññū vītamaccharo,
Bhoge saṃharamānassa, bhamarasseva irīyato,
Ekena bhoge bhuñjeyya, dvīhi kammaṃ payojaye,
Người có lòng tin, đầy đủ giới hạnh, biết chia sẻ và không xan tham đang làm trong sạch con đường đưa đến lợi ích về sau.
Kinh Sigālovāda (DN 31):
Người gom góp tài sản có phương pháp như ong hút mật mà không phá hoại hoa; của cải tăng dần như gò mối vun cao.
Nên dùng một phần tài sản cho sinh hoạt, hai phần đầu tư vào công việc, phần thứ tư để dành phòng khi gặp hoạn nạn.
Kệ chúc lành nương uy đức Tam bảo có ở mục cúng dường trai tăng phía trên; không chép lặp lại tại đây.
D. Pháp thoại ngắn (tùy chọn)
Đề tài thích hợp: mua bán chân thật, giá cả công bằng, đối xử tử tế với người lao động và khách hàng, chăm sóc khi đau bệnh, trả lương thỏa đáng, dành thời gian nghỉ ngơi, bố thí từ thu nhập chân chánh và phát triển Chánh mạng (xem DN 31).
E. Chúc phúc hằng năm
Một số gia đình thỉnh chư Tăng vào dịp kỷ niệm cơ sở kinh doanh hoặc đầu năm để nghe pháp, cúng dường và hồi hướng; đây là tập tục tự nguyện.
PHẦN BẢYTùy hỷ & hồi hướng
PHẦN BẢY —
TÙY HỶ VÀ HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC
021. THỈNH THỌ NGŨ GIỚI (PAÑCA SĪLA) — DÀNH CHO CƯ SĨ
Mayaṃ bhante, visuṃ visuṃ rakkhaṇatthāya, tisaraṇena saha, pañca sīlāni yācāma.
1. Pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
2. Adinnādānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
3. Kāmesumicchācārā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
4. Musāvādā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
5. Surāmeraya-majja-pamādaṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
(L) Yathā vārivahā pūrā, paripūrenti sāgaraṃ,
(All) Icchitaṃ patthitaṃ tumhaṃ, khippameva samijjhatu,
1. THỈNH THỌ NGŨ GIỚI (PAÑCA SĪLA) — DÀNH CHO CƯ SĨ
Bạch Đại đức, chúng con kính thỉnh truyền trao Tam quy và Ngũ giới để mỗi người tự mình thọ trì.
Con xin thọ trì học giới tránh xa sự sát hại sinh mạng.
Con xin thọ trì học giới tránh xa việc lấy của không được cho.
Con xin thọ trì học giới tránh xa tà hạnh trong các dục.
Con xin thọ trì học giới tránh xa lời nói dối.
Con xin thọ trì học giới tránh xa các chất say là nhân của sự phóng dật.
Giới tử tự mình thọ giới; người khác có thể trợ duyên và phát tâm thiện lành nhưng không thay thế sự phát nguyện của người thọ trì.
2. CHƯ TĂNG TÙY HỶ SAU KHI NHẬN CÚNG DƯỜNG (ANUMODANĀ)
Sau khi nhận vật thực hoặc phẩm vật cúng dường, chư Tăng có thể tụng các kệ tùy hỷ. Theo tập quán, vị trưởng lão tụng kệ mở đầu, đại chúng cùng tụng phần tiếp theo. Lựa chọn kệ theo hoàn cảnh, không cần tụng tất cả trong mọi dịp.
(a) Kệ mở đầu tùy hỷ — Anumodanārambha Gāthā
Như các dòng sông đầy nước chảy về làm đầy biển cả, cũng vậy, sự cúng dường nơi đây có thể đem đến lợi ích cho những người đã quá vãng.
Nguyện những điều quý vị ước mong sớm được thành tựu; nguyện mọi thiện nguyện tròn đầy như trăng ngày rằm, như bảo châu sáng rực.
03(b) Kệ tùy hỷ thông thường — Sāmaññānumodanā Gāthā
(b) Sāmaññānumodanā Gāthā
Sabbītiyo vivajjantu, sabbarogo vinassatu,
Mā te bhavatvantarāyo, sukhī dīghāyuko bhava.
Abhivādanasīlissa, niccaṃ vuḍḍhāpacāyino,
Cattāro dhammā vaḍḍhanti, āyu vaṇṇo sukhaṃ balaṃ.
Bhavatu sabbamaṅgalaṃ, rakkhantu sabbadevatā,
Sabba-buddhānubhāvena, sadā sotthī bhavantu te.
Bhavatu sabbamaṅgalaṃ, rakkhantu sabbadevatā,
Sabba-dhammānubhāvena, sadā sotthī bhavantu te.
Bhavatu sabbamaṅgalaṃ, rakkhantu sabbadevatā,
Sabba-saṅghānubhāvena, sadā sotthī bhavantu te.
(c) Bhojanadānānumodanā
Āyudo balado dhīro, vaṇṇado paṭibhāṇado,
Sukhassa dātā medhāvī, sukhaṃ so adhigacchati.
Āyuṃ datvā balaṃ vaṇṇaṃ, sukhañca paṭibhāṇado,
Dīghāyu yasavā hoti, yattha yatthūpapajjatīti.
(d) Devatābhisammantana Gāthā
Yasmiṃ padese kappeti, vāsaṃ paṇḍitajātiyo,
Sīlavantettha bhojetvā, saññate brahmacārayo.
Yā tattha devatā āsuṃ, tāsaṃ dakkhiṇamādise,
Tā pūjitā pūjayanti, mānitā mānayanti naṃ.
(b) Kệ tùy hỷ thông thường — Sāmaññānumodanā Gāthā
Nguyện mọi điều bất lành được tránh xa, mọi bệnh tật được tiêu trừ, mọi hiểm nguy không đến; nguyện quý vị an vui và trường thọ.
Người có hạnh kính lễ, thường tôn trọng các bậc trưởng thượng, được tăng trưởng bốn điều: thọ mạng, dung sắc, an lạc và sức mạnh.
Nguyện mọi điều cát tường đến với quý vị, nguyện chư thiên hộ trì. Nhờ uy đức của chư Phật, nguyện quý vị luôn được an lành.
Nguyện mọi điều cát tường đến với quý vị, nguyện chư thiên hộ trì. Nhờ uy lực của Chánh pháp, nguyện quý vị luôn được an lành.
Nguyện mọi điều cát tường đến với quý vị, nguyện chư thiên hộ trì. Nhờ uy đức của Tăng-già, nguyện quý vị luôn được an lành.
(c) Kệ tùy hỷ cúng dường vật thực — Bhojanadānānumodanā Người trí cho vật thực, trao tặng thọ mạng, sức mạnh, dung sắc, khả năng biện giải và an lạc; nhờ bố thí, vị ấy cũng được an lạc.
Đã trao tặng thọ mạng, sức mạnh, dung sắc, hạnh phúc cùng khả năng biện giải, vị ấy có thể được trường thọ, danh thơm ở những nơi tái sinh.
(d) Kệ hướng công đức đến chư thiên — Devatābhisammantana Gāthā Ở nơi người trí lập chỗ cư trú và cúng dường các bậc có giới hạnh, chế ngự tự thân, sống đời phạm hạnh;
hãy hồi hướng phước cúng dường đến chư thiên ở nơi ấy. Được tôn trọng, chư thiên cũng tôn trọng lại; được quý kính, chư thiên cũng quý kính lại.
043. HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC (PATTIDĀNA)
Tato naṃ anukampanti, mātā puttaṃva orasaṃ,
Devatānukampito poso, sadā bhadrāni passatī.
(e) Tirokuḍḍakaṇḍa Gāthā
Adāsi me akāsi me, ñātimittā sakhā ca me,
Petānaṃ dakkhiṇaṃ dajjā, pubbe katamanussaraṃ.
Na hi ruṇṇaṃ vā soko vā, yā caññā paridevanā,
Na taṃ petānamatthāya, evaṃ tiṭṭhanti ñātayo.
Ayañca kho dakkhiṇā dinnā, saṅghamhi suppatiṭṭhitā,
Dīgharattaṃ hitāyassa, ṭhānaso upakappati.
So ñātidhammo ca ayaṃ nidassito, petāna pūjā ca katā uḷārā,
Balañca bhikkhūnamanuppadinnaṃ, tumhehi puññaṃ pasutaṃ anappakanti.
3. PATTIDĀNA
Idaṃ me puññaṃ āsavakkhayāvahaṃ hotu.
Idaṃ me puññaṃ nibbānassa paccayo hotu.
Mama puññabhāgaṃ sabbasattānaṃ bhājemi; te sabbe me samaṃ puññabhāgaṃ labhantu.
Từ đó, chư thiên có thể thương tưởng họ như mẹ hiền thương con ruột; người được chư thiên thương tưởng thường gặp những điều tốt lành.
(e) Kệ tưởng niệm thân quyến quá vãng — Tirokuḍḍakaṇḍa Gāthā Nhớ nghĩ rằng: “Người ấy đã từng cho tôi, làm việc giúp tôi; người ấy là bà con, bằng hữu, bạn đồng hành của tôi”, nên cúng dường hồi hướng đến những người đã quá vãng.
Sự khóc than, buồn rầu hoặc những lời bi lụy khác không đem lại lợi ích trực tiếp cho người đã khuất; thân quyến vẫn lưu lại trong nỗi sầu ấy.
Nhưng sự cúng dường được dâng lên Tăng-già và đặt đúng nơi có ruộng phước, có thể đem lại lợi ích lâu dài cho người đã quá vãng theo lời kinh.
Như vậy, bổn phận đối với thân quyến đã được nêu bày; sự tưởng niệm người quá vãng được thực hiện một cách cao quý; chư Tăng được trợ duyên và thí chủ tạo được nhiều phước thiện.
3. HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC (PATTIDĀNA)
Nguyện công đức này dẫn đến sự đoạn tận các lậu hoặc.
Nguyện công đức này là duyên lành hướng đến Niết-bàn.
Con xin chia sẻ phần công đức này đến tất cả hữu tình; nguyện tất cả đều được tùy hỷ phần phước ấy.
4. KẾT LỄ
Đại chúng cùng thưa ba lần “Sādhu! Sādhu! Sādhu!” — Lành thay! Lành thay! Lành thay! Sau đó đảnh lễ Tam bảo ba lần và giải tán trong chánh niệm.
Thông tin sách · Lời nói đầu · Hướng dẫn · Tra cứu theo dịp tụng
TỤNG NIỆM HẰNG NGÀY
DAILY CHANTING BOOK — PĀLI–VIỆT
Biên soạn nguyên bản: Bhikkhu Visuddhamma
Ấn bản đối chiếu hai trang
Bài tụng: Pāli ở trang chẵn bên trái | Nghĩa Việt tương ứng ở trang lẻ bên phải; trang hướng dẫn và tra cứu được ghi nhãn riêng.
Hướng dẫn đọc: Khi mở sách thành hai trang, bên trái là nguyên văn Pāli; bên phải là phần diễn nghĩa tiếng Việt tương ứng theo đơn vị nội dung. Trang có ít chữ có thể được để thoáng để giữ đúng vị trí song song.
THÔNG TIN XUẤT BẢN VÀ QUYỀN SỬ DỤNG
Sách Tụng Niệm Hằng Ngày: Các bài tụng Pāli và phần diễn nghĩa tiếng Việt dành cho tự viện và các nghi lễ Phật giáo. Biên soạn nguyên bản:
Bhikkhu Visuddhamma. Ấn bản gốc đầu tiên: năm 2026.
© 2026 Bhikkhu Visuddhamma. Bản tiếng Anh, bố cục, chú giải và hướng dẫn nghi lễ của nguyên bản được ghi nhận là phần biên soạn của tác giả.
Các bản văn Pāli được trích dẫn từ Tam tạng và những tuyển tập tụng niệm truyền thống Theravāda. Cần phân biệt bản văn kinh điển với các bản dịch, chú giải và biên tập hiện đại.
Ấn bản gốc được dành cho việc ấn tống, không bán. Việc sao in và phổ biến vì mục đích Phật pháp phi thương mại cần giữ nguyên nội dung và thông tin bản quyền; mọi sử dụng khác phải tuân thủ điều kiện ghi trong nguyên bản và quyền liên quan.
Sabbadānaṃ dhammadānaṃ jināti. (Kinh Pháp Cú 354)
Pháp thí thắng mọi sự bố thí. (Kinh Pháp Cú, kệ 354)
LỜI NÓI ĐẦU CỦA TÁC GIẢ
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Trong hơn hai nghìn năm trăm năm qua, âm thanh chư Tăng trì tụng lời Phật dạy đã vang lên nơi chánh điện vào những buổi sớm chiều, an ủi người bệnh và người sắp lâm chung, cầu chúc an lành trong những dịp dựng nhà, sinh con, và đồng hành cùng thân quyến trong giờ phút tiễn đưa người quá vãng.
Tụng niệm không chỉ là đọc thành lời, mà còn là sự tưởng niệm Phật, Pháp và Tăng; là phương pháp tu tập chánh niệm, định tâm, đồng thời là cơ hội hướng thiện và hồi hướng công đức đến hết thảy chúng sinh.
Tập sách này được biên soạn để chư Tỳ-khưu, Sa-di và hàng cư sĩ trong các tự viện có thể sử dụng chung một tuyển tập, gồm những bài tụng cần thiết cho công phu hằng ngày và cho các sự kiện quan trọng của đời người. Mỗi bài Pāli được kèm theo phần diễn nghĩa để người trì tụng hiểu lời mình đang tụng, và người nghe có thể lĩnh hội ý nghĩa. Phần dịch chú trọng sự sáng rõ và trung thực với văn bản hơn là vẻ hoa mỹ; khi có điểm chưa thỏa đáng, cần trở về đối chiếu nguyên bản Pāli.
Tập quán của các truyền thống Theravāda tại những quốc gia khác nhau có thể sai biệt về phát âm, trình tự trì tụng và dị bản của một số câu kệ. Sách ưu tiên những hình thức được sử dụng phổ biến, đồng thời ghi nhận các dị biệt quan trọng. Mỗi tự viện nên tôn trọng pháp hành và nghi thức do các vị bổn sư, giáo thọ hướng dẫn. Trước khi ấn hành, kính thỉnh chư vị trưởng lão đối chiếu văn Pāli với ấn bản Tam tạng và các nghi điển đang lưu hành, và hoan hỷ tiếp nhận mọi góp ý cho những lần hiệu đính tiếp theo.
Nguyện đem công đức phát sinh từ công việc này hồi hướng đến chư bổn sư, chư vị giáo thọ, cha mẹ, thân bằng quyến thuộc, các thí chủ hộ trì Tăng-già và tất cả chúng sinh không trừ một ai. Nguyện Chánh pháp trường tồn.
Bhikkhu Visuddhamma — Tháng 11 năm 2026
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG
Tuyển tập này quy tụ những bài tụng Pāli cốt yếu của Phật giáo Theravāda, dùng trong thời khóa tự viện và trong những dịp sinh nở, bệnh tật, hôn lễ, an cư nhà mới, tang lễ. Phần Pāli được đặt cùng phần diễn nghĩa tiếng Việt để chư Tăng trì tụng theo nguyên ngữ và Phật tử hiểu nội dung.
Quy ước
• Người dẫn tụng: những dòng ký hiệu (L) dành cho vị trưởng chúng hoặc vị chủ lễ; các dòng còn lại do đại chúng đồng tụng.
• Lễ bái: dấu ✦ chỉ một lần đảnh lễ năm vóc sát đất.
• Nhịp tụng: trì tụng đều đặn, hòa giọng, không quá nhanh cũng không kéo dài quá mức; các nguyên âm dài ā, ī, ū được phát âm dài hơn nguyên âm ngắn.
• Phát âm: những ký hiệu chuyển tự Pāli cần được học với vị giáo thọ. Các cách phiên âm gần đúng bằng ngôn ngữ hiện đại không thay thế được cách phát âm chuẩn.
Trình tự một lễ tụng thông thường
Đảnh lễ Tam bảo; Phật tử thỉnh cầu thọ trì giới khi thích hợp.
Thỉnh chư thiên nghe pháp trong những lễ cầu an theo tập tục.
Trì tụng những bài kinh và bài kệ phù hợp với buổi lễ.
Tùy hỷ, hồi hướng công đức và chúc lành.
Lời tụng và nhịp điệu có thể khác nhau giữa các truyền thống Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện và Campuchia. Tự viện nên tuân theo truyền thống của các vị bổn sư nếu có khác biệt với sách này.
TRA CỨU THEO DỊP TỤNG
|
Dịp tụng |
Vị trí trong sách |
|---|---|
|
Công phu sáng hằng ngày |
Phần I |
|
Công phu tối hằng ngày |
Phần II |
|
Chúc phúc tư gia |
Phần Ba §1–5; Phần Sáu |
|
Trẻ sơ sinh và lễ đầy tháng |
Phần Năm A |
|
Sinh nhật |
Phần Năm B |
|
Bệnh tật |
Tụng niệm cho người bệnh (A); Phần Ba §12 |
|
Lâm chung |
Tụng niệm cho người lâm chung (B) |
|
Tang lễ và tưởng niệm |
Phần Bốn; Phần Ba §9–11, 14, 16, 21 |
|
Cúng dường trai tăng |
Phần Sáu; Phần Bảy §2 |
|
Bố-tát và ngày lễ |
Phần Sáu; Phần Ba §9, 28 |
